Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TAI BIẾN, THỜI GIAN THỞ OXY LƯU LƯỢNG CAO QUA ỐNG THÔNG MŨI VÀ THỜI GIAN NẰM VIỆN Ở TRẺ MẮC NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Trần Thị Thủy, Lê Thị Hồng Hanh
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6769
23 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kết quả điều trị suy hô hấp bằng liệu pháp oxy lưu lượng cao (HFNC) qua ống thông mũi ở trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp dưới và phân tích thăm dò một số yếu tố liên quan đến tai biến, thời gian thở HFNC và thời gian nằm viện của đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, dạng loạt ca bệnh, kết hợp thu thập số liệu hồi cứu và tiến cứu, được thực hiện tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2025 đến tháng 05/2026. Nghiên cứu bao gồm 45 trẻ từ 1 đến 60 tháng tuổi. Các biến định tính được trình bày bằng tần số và tỷ lệ phần trăm; các biến định lượng được trình bày bằng trung vị và khoảng tứ phân vị. Hồi quy logistic được sử dụng để phân tích thăm dò yếu tố liên quan đến tai biến HFNC; mô hình hồi quy cho biến đếm được sử dụng để phân tích yếu tố liên quan đến thời gian thở HFNC và thời gian điều trị.

Kết quả: Trung vị tuổi của bệnh nhân là 1 tháng; nam giới chiếm 71,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, thiếu máu và tiền sử đẻ non lần lượt là 28,9%, 26,7% và 15,6%. Viêm phổi do RSV chiếm 84,4%. Có 10 bệnh nhân xuất hiện tai biến tắc nghẽn HFNC do chất tiết, chiếm 22,2%. Trung vị thời gian thở HFNC là 5 ngày và trung vị thời gian điều trị là 13 ngày. Tỷ lệ điều trị thành công là 95,6%, với 2 trường hợp thất bại. Sau điều trị HFNC, tình trạng kích thích/quấy khóc của trẻ giảm từ 93,3% xuống 0%, tím giảm từ 26,7% xuống 0%, rút lõm lồng ngực giảm từ 100% xuống 7,0%. Nhịp thở giảm từ 70,0 xuống 40,0 lần/phút, nhịp tim giảm từ 180,0 xuống 137,0 lần/phút, chỉ số ROX tăng từ 4,95 lên 7,14 khi kết thúc HFNC; các thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Về khí máu, pH tăng từ 7,36 lên 7,44 và PaCO₂ giảm từ 55,2 xuống 44,4 mmHg, có ý nghĩa thống kê. PaO₂ và SaO₂ không thay đổi có ý nghĩa. Chỉ số PaO₂/FiO₂ giảm có ý nghĩa sau 6 giờ thở HFNC, sau đó tăng trở lại khi kết thúc thở HFNC. Không ghi nhận yếu tố nào liên quan có ý nghĩa thống kê với tai biến HFNC. Thời gian bị bệnh trước nhập viện liên quan độc lập với thời gian thở HFNC dài hơn (IRR = 1,03; KTC 95%: 1,01–1,06; p = 0,005) và thời gian điều trị dài hơn (IRR = 1,04; KTC 95%: 1,01–1,08; p = 0,003).

Kết luận: Các dấu hiệu lâm sàng, giảm PaCO₂ và tăng pH ở trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp dưới có suy hô hấp cải thiện tốt sau HFNC. Thời gian bị bệnh trước nhập viện có liên quan với thời gian thở HFNC và thời gian điều trị dài hơn.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Friedman ML, Nitu ME. Acute respiratory failure in children. Pediatr Ann. 2018;47(7). doi:10.3928/19382359-20180625-01. Google Scholar
[2]
[2] Phạm TQ. Đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân, phân loại suy hô hấp cấp ở trẻ em theo khí máu. MPS. 2018;34(2). doi:10.25073/2588-1132/vnumps.4136. Google Scholar
[3]
[3] Wong JJM, Jit M, Sultana R, et al. Mortality in pediatric acute respiratory distress syndrome: a systematic review and meta-analysis. J Intensive Care Med. 2019;34(7):563-571. Google Scholar
[4]
[4] Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương. Chẩn đoán và điều trị bệnh lý hô hấp nhi khoa. Hà Nội; 2022. Google Scholar
[5]
[5] Ricard JD, Roca O, Lemiale V, et al. Use of nasal high flow oxygen during acute respiratory failure. Intensive Care Med. 2020;46(12):2238-2247. doi:10.1007/s00134-020-06228-7. Google Scholar
[6]
[6] Lodeserto FJ, Lettich TM, Rezaie SR. High-flow nasal cannula: mechanisms of action and adult and pediatric indications. Cureus. 2018. doi:10.7759/cureus.3639. Google Scholar
[7]
[7] Pham TMT, O’Malley L, Mayfield S, Martin S, Schibler A. The effect of high flow nasal cannula therapy on the work of breathing in infants with bronchiolitis. Pediatr Pulmonol. 2015;50(7):713-720. doi:10.1002/ppul.23060. Google Scholar
[8]
[8] Franklin D, Babl FE, Schlapbach LJ, et al. A randomized trial of high-flow oxygen therapy in infants with bronchiolitis. N Engl J Med. 2018;378(12):1121-1131. doi:10.1056/NEJMoa1714855. Google Scholar
[9]
[9] Luo J, Duke T, Chisti MJ, Kepreotes E, Kalinowski V, Li J. Efficacy of high-flow nasal cannula vs standard oxygen therapy or nasal continuous positive airway pressure in children with respiratory distress: a meta-analysis. J Pediatr. 2019;215:199-208.e8. doi:10.1016/j.jpeds.2019.07.059. Google Scholar
[10]
[10] Lin J, Zhang Y, Xiong L, Liu S, Gong C, Dai J. High-flow nasal cannula therapy for children with bronchiolitis: a systematic review and meta-analysis. Arch Dis Child. 2019;104(6):564-576. doi:10.1136/archdischild-2018-315846. Google Scholar
[11]
[11] Kandasamy S, Rameshkumar R, Sangaralingam T, et al. High-flow nasal oxygen in infants and children for early respiratory management of pneumonia-induced acute hypoxemic respiratory failure: the CENTURI randomized clinical trial. Intensive Care Med Paediatr Neonatal. 2024;2(1):15. doi:10.1007/s44253-024-00031-8. Google Scholar
[12]
[12] Liu J, Li D, Luo L, Liu Z, Li X, Qiao L. Analysis of risk factors for the failure of respiratory support with high-flow nasal cannula oxygen therapy in children with acute respiratory dysfunction: a case-control study. Front Pediatr. 2022;10:979944. doi:10.3389/fped.2022.979944. Google Scholar
[13]
[13] Nascimento MS, Quinto DER, Zamberlan GC, Santos AZD, Rebello CM, Prado C do. High-flow nasal cannula failure: can clinical outcomes determine early interruption? Einstein (Sao Paulo). 2021;19:eAO5846. doi:10.31744/einstein_journal/2021AO5846. Google Scholar