Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

CHI PHÍ VÀ CƠ CẤU CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ Ở NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG

Vũ Thu Hương, Phạm Lê Phương Thanh, Trần Thị Thuận, Hồ Hoàng Dung
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6757
14 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích chi phí thanh toán nội trú và cơ cấu chi phí ở người bệnh nhồi máu não cao tuổi, đồng thời khảo sát mối liên quan giữa mức độ nặng của đột quỵ với chi phí điều trị và thời gian nằm viện.

Đối tượng – Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có phân tích trên 119 bệnh nhân ≥ 60 tuổi chẩn đoán nhồi máu não điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2025. Thu thập các biến lâm sàng, mức độ nặng đột quỵ theo thang NIHSS, thời gian nằm viện và chi phí thanh toán nội trú từ hồ sơ bệnh án và hệ thống thanh toán viện phí. Phân tích thống kê mô tả, kiểm định Kruskal–Wallis và hồi quy đa biến bằng mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) với phân phối Gamma và hàm liên kết log.

Kết quả: Tuổi trung bình 79,3 ± 9,2 năm; tỷ lệ nam/nữ tương đương. Điểm NIHSS trung bình 15,1 ± 9,4. Thời gian nằm viện trung bình 16,91 ± 14,42 ngày. Biến chứng thường gặp là viêm phổi (24,4%) và suy hô hấp (20,2%). Chi phí thanh toán nội trú có trung vị là 29,46 triệu đồng (IQR: 17,06-54,72 triệu đồng), giá trị trung bình 45,21 ± 52,76 triệu đồng; BHYT chi trả 61,13%. Chi phí chủ yếu tập trung vào thuốc – dịch truyền (32,11%) và ngày giường (27,29%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chi phí thanh toán nội trú và thời gian nằm viện giữa các nhóm mức độ nặng của đột quỵ theo NIHSS (p > 0,05). Trong mô hình GLM, sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính và rung nhĩ, mức độ nặng của đột quỵ không còn liên quan độc lập với chi phí thanh toán nội trú; thời gian nằm viện là yếu tố liên quan độc lập với chi phí (aCR = 1,05; KTC95%: 1,03–1,07; p < 0,001).

Kết luận: Chi phí thanh toán nội trú ở bệnh nhân nhồi máu não cao tuổi còn cao và phân bố không đồng đều, trong đó thuốc và ngày giường chiếm tỷ trọng lớn. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nặng của đột quỵ theo NIHSS với chi phí thanh toán nội trú và thời gian nằm viện.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Christensen M, Previgliano I, Capparelli F, Lerman D, Lee W, Wainsztein N. Acute treatment costs of intracerebral hemorrhage and ischemic stroke in Argentina. Acta Neurologica Scandinavica. 2009;119(4):246-53. DOI: 10.1111/j.1600-0404.2008.01094.x Google Scholar
[2]
2. Strilciuc S, Grad DA, Radu C, Chira D, Stan A, Ungureanu M, et al. The economic burden of stroke: a systematic review of cost of illness studies. Journal of medicine and life. 2021;14(5):606. doi: 10.25122/jml-2021-0361 Google Scholar
[3]
3. Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đột quỵ não. 2024. (https://bvtn.org.vn/huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-dot-quy-nao/) Google Scholar
[4]
4. Huyền DT, Tuận NV, Minh HV. Chi phí trực tiếp dành cho điều trị nội trú của người bệnh đột quỵ nhồi máu não tại Trung tâm Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai, năm 2021. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;521(2). https://doi.org/10.51298/vmj.v521i2.4109 Google Scholar
[5]
5. Feigin VL, Stark BA, Johnson CO, Roth GA, Bisignano C, Abady GG, et al. Global, regional, and national burden of stroke and its risk factors, 1990–2019: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2019. The Lancet Neurology. 2021;20(10):795-820. DOI: 10.1016/S1474-4422(21)00252-0 Google Scholar
[6]
6. Christensen EW, Pelzl CE, Hemingway J, Wang JJ, Sanmartin MX, Naidich JJ, et al. Drivers of ischemic stroke hospital cost trends among older adults in the United States. Journal of the American College of Radiology. 2023;20(4):411-21. DOI: 10.1016/j.jacr.2022.09.026 Google Scholar
[7]
7. WHO. Global monitoring report on financial protection in health 2019. 2019. https://www.who.int/publications/i/item/9789240003958 Google Scholar
[8]
8. Lu Y, Sun W, Shen Z, Sun W, Liu R, Li F, et al. Regional differences in hospital costs of acute ischemic stroke in China: analysis of data from the Chinese acute ischemic stroke treatment outcome registry. Frontiers in Public Health. 2021;9:783242. DOI: 10.3389/fpubh.2021.783242 Google Scholar