Mục tiêu: Mô tả thực trạng nguy cơ rối loạn ăn uống và phân tích vai trò của thói quen vận động thể lực, áp lực sức khỏe tâm thần đối với nguy cơ nhịn ăn hạn chế và cuồng ăn/ăn vô độ ở học sinh Trường Trung học phổ thông Mỹ Đức B, Hà Nội năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 426 học sinh từ 15-18 tuổi, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khối lớp. Nguy cơ rối loạn ăn uống được đánh giá bằng thang đo EAT‑26 (nhịn ăn hạn chế, ngưỡng ≥ 20) và BITE (cuồng ăn, ngưỡng ≥ 10); áp lực tâm thần được đo bằng DASS‑21. Phân tích bằng kiểm định Chi bình phương, kiểm định T và hồi quy logistic đa biến.
Kết quả: Tỷ lệ học sinh có nguy cơ nhịn ăn hạn chế (EAT‑26 ≥ 20) là 32,63%. Tỷ lệ nguy cơ cuồng ăn/ăn vô độ theo thang BITE ghi nhận cao bất thường (69,48% ở mức ≥ 20; 28,87% ở mức trung bình 11-19) so với y văn quốc tế và trong nước, nên cần được diễn giải thận trọng và không được xem là kết quả chính của nghiên cứu. Trong mô hình hồi quy đa biến, thói quen vận động thể lực là yếu tố bảo vệ, giúp giảm 50% nguy cơ nhịn ăn hạn chế (AOR = 0,50; KTC 95%: 0,31-0,81; p = 0,005); ngược lại, mỗi điểm lo âu tăng lên làm tăng nguy cơ này lên 1,07 lần (AOR = 1,07; KTC 95%: 1,02-1,12; p = 0,005).
Kết luận: Thói quen vận động thể lực có liên quan độc lập đến việc giảm nguy cơ nhịn ăn hạn chế (trong giới hạn của một biến đo nhị phân), trong khi lo âu là yếu tố thúc đẩy mạnh nhất cho hành vi nhịn ăn hạn chế. Cần lồng ghép tư vấn, vận động khoa học và chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các can thiệp trong học đường.