Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ15 24/09/2026

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH DỰNG HÌNH 3D TRONG PHÂN LOẠI GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI TẠI BỆNH VIỆN SÀI GÒN - ITO

Phan Văn Ngọc, Lê Chí Dũng, Nguyễn Thị Lệ Hồng, Nguyễn Thành Tấn
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD15.6675
16 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái học và vai trò của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) dựng hình 3D trong phân loại gãy liên mấu chuyển xương đùi.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 57 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi điều trị tại Bệnh viện Sài Gòn - ITO từ tháng 04/2025 đến tháng 04/2026.

Kết quả: Chụp CLVT dựng hình 3D phát hiện các tổn thương hình thái học của gãy liên mấu chuyển xương đùi tốt hơn X-quang thường quy. Tỷ lệ phát hiện tổn thương cột sau trong, thành bên ngoài mỏng (d < 20,5 mm) và gãy ≥ 4 mảnh trên CLVT dựng hình 3D lần lượt là 71,9%, 45,6% và 31,5%, cao hơn so với X-quang thường quy là 49,1%, 29,8% và 12,3%. Trên X-quang thường quy, tỷ lệ gãy vững và gãy không vững lần lượt là 54,4% và 45,6%; khi đánh giá bằng CLVT dựng hình 3D, tỷ lệ gãy không vững tăng lên 59,6%, trong khi tỷ lệ gãy vững giảm còn 40,4%.

Kết luận: Chụp CLVT dựng hình 3D giúp phát hiện đầy đủ hơn các đặc điểm hình thái học của gãy liên mấu chuyển xương đùi so với X-quang thường quy, từ đó nâng cao độ chính xác của phân loại gãy và hỗ trợ lập kế hoạch điều trị trước phẫu thuật.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Sophia M, et al. The management of intertrochanteric hip fractures: an update. Orthopaedics and Trauma, 2024, 38(2): 70-77. doi: 10.1016/j.mporth.2024.01.001 Google Scholar
[2]
2. Lê Tất Thắng và cộng sự. Nhận xét đặc điểm tổn thương giải phẫu gãy liên mấu chuyển xương đùi trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 503(1): 19-24. doi: 10.51298/vmj.v503i1.685 Google Scholar
[3]
3. Omar Ameen Saeed et al. Evaluation of the outcome of proximal femoral nail in the treatment of unstable Intertrochanteric fracture in adult. Advanced Medical Journal, 2024, 9(1): 37-45. doi: 10.56056/amj.2024.235 Google Scholar
[4]
4. Meinberg E. G, et al. Fracture and dislocation classification compendium. Journal of Orthopaedic Trauma. 2018, 32(Suppl 1): S1-S170. doi: 10.1097/BOT.0000000000001063 Google Scholar
[5]
5. Đinh Thanh Long, Bùi Hồng Thiên Khanh, Trần Nguyễn Phương. Đánh giá hình thái và phân loại gãy liên mấu chuyển xương đùi trên CT-scan dựng hình 3D tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 549(2): 208-212. doi: 10.51298/vmj.v549i2.13798 Google Scholar
[6]
6. Iguchi M, et al. Addition of 3D-CT evaluation to radiographic images and effect on diagnostic reliability of current 2018 AO/OTA classification of femoral trochanteric fractures. Injury, 2021, 52(11): 3363-3368. doi: 10.1016/j.injury.2021.09.031 Google Scholar
[7]
7. Kalia R. B., et al. A comprehensive 3D CT based classification of intertrochanteric fracture. J Clin Orthop Trauma, 2022, 30: 101912. doi: 10.1016/j.jcot.2022.101912 Google Scholar
[8]
8. Shoda E, et al. Proposal of new classification of femoral trochanteric fracture by three-dimensional computed tomography and relationship to usual plain X-ray classification. J Orthop Surg, 2017, 25(1). doi: 10.1177/2309499017692700 Google Scholar
[9]
9. Singh M., Nagrath A. R., Maini P. S. Changes in trabecular pattern of the upper end of the femur as an index of osteoporoses. J. Bone Joint Surg Am, 1970, 52: 457-467. doi:10.2106/00004623-197052030-00005 Google Scholar
[10]
10. Thimmaiah S, et al. Assessment of Functional Outcome of Intertrochanteric Fractures Treated by PFNA-2 in Elderly Patients in a Tertiary Care Hospital. Frontiers on Healthcare Research, 2025, 2(2): 10-17. doi: 10.63918/fhr.v2.n2.p10-17.2025 Google Scholar