Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC DINH DƯỠNG TRẺ DƯỚI 5 TUỔI CỦA CÁC BÀ MẸ TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2025

Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Khánh Tiên, Nguyễn Thị Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Lành
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6658
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại một số xã thuộc thành phố Cần Thơ năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 400 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại một số xã thuộc thành phố Cần Thơ từ tháng 4-10 năm 2025. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi cấu trúc sẵn và được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.

Kết quả: Nhóm bà mẹ từ 18-29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (58,8%), đa số là dân tộc Kinh (90,8%). Tỷ lệ bà mẹ biết rõ lợi ích của sữa non là 86,5% và biết đúng về chăm sóc dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là 79,8%. Hầu hết trẻ được bú mẹ (96,5%), trong đó 50,5% trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng tuổi trở lên là 79,5%; 68,5% bà mẹ cai sữa cho trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên. Khi trẻ bị bệnh, 56,3% bà mẹ cho trẻ bú mẹ và ăn uống nhiều hơn. Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần là 40,5%.

Kết luận: Các bà mẹ có kiến thức và thực hành tương đối tốt về chăm sóc dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi. Tuy nhiên, thực hành cho trẻ bú mẹ sớm sau sinh và tẩy giun định kỳ vẫn còn hạn chế, cần được tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] World Health Organization. WHO guideline for complementary feeding of infants and young children 6-23 months of age, 2023. Google Scholar
[2]
[2] United Nations Children’s Fun. Improving young children’s diets during the complementary feeding period - UNICEF programming guidance, 2020. https://www.unicef.org/documents/improving-young-childrens-diets-during-complementary-feeding-period-unicef-programming Google Scholar
[3]
[3] Victora C.G, Adair L, Fall C et al. Maternal and child undernutrition: consequences for adult health and human capital. Lancet, 2008, 371 (9609): 340-57. doi: 10.1016/s0140-6736(07)61692-4. Google Scholar
[4]
[4] World Health Organization. WHO clinical consortium on healthy ageing 2023. Geneva, 2024. https://www.who.int/publications/i/item/9789240093546 Google Scholar
[5]
[5] Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Tổng điều tra dinh dưỡng 2019-2020, 2021. Google Scholar
[6]
[6] Black R.E, Victora C.G, Walker S.P et al. Maternal and child undernutrition and overweight in low-income and middle-income countries. Lancet, 2013, 382 (9890): 427-451. doi: 10.1016/s0140-6736(13)60937-x. Google Scholar
[7]
[7] Hoàng Thị Nam Giang, Lê Thọ Minh Hiếu. Yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn ở trẻ ≤ 6 tháng tuổi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 2023, 21 (7): 94-100. Google Scholar
[8]
[8] Bùi Kim Chiên, Trần Hữu Lộc, Nguyễn Quốc Oai và cộng sự. Đánh giá thực trạng kiến thức và thái độ thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em ở phụ nữ nuôi con dưới 5 tuổi tại xã Vân Khánh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2014, tr. 119. Google Scholar
[9]
[9] Trần Thị Nhi, Mai Thị Nguyệt, Vũ Thị Nhung. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ sau sinh tại Khoa Sản ở Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 504 (1): 162-166. doi: 10.51298/vmj.v504i1.857 Google Scholar
[10]
[10] Nguyễn Thúy Hằng, Bùi Thị Cẩm Trà, Đỗ Nam Khánh và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của phụ nữ mang thai đến khám tại Khoa Sản, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023-2024. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (CĐ 6): 209-215. doi: 10.52163/yhc.v66iCD6.2304 Google Scholar