Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI VÀ HÌNH ẢNH HỌC CỦA U NANG GIÁP LƯỠI THỂ LƯỠI TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Mạnh Minh, Đỗ Phương Linh, Lê Anh Tuấn, Lê Hồng Anh
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6657
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của u nang giáp lưỡi thể lưỡi ở người bệnh điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh được thực hiện trên 27 người bệnh được sinh thiết trong quá trình phẫu thuật có kết quả mô bệnh học là u nang giáp lưỡi thể lưỡi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 9/2022 đến tháng 7/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, hình ảnh nội soi tai mũi họng, cộng hưởng từ và siêu âm vùng cổ trước. Các biến số nghiên cứu bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, đặc điểm nội soi và đặc điểm hình ảnh học của tổn thương.

Kết quả: Tuổi trung vị 26 (6-66 tuổi) ; nam giới chiếm 77,8%. Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là nuốt vướng (81,5%), trong khi 18,5% trường hợp không có triệu chứng. Trên nội soi, tất cả người bệnh đều có một u nang đơn độc; vị trí đường giữa chiếm 63,0%; hình dạng chóp cầu chiếm 77,8%; bề mặt nhẵn chiếm 81,5% và màu hồng nhạt chiếm 77,8%. Trên cộng hưởng từ, tất cả trường hợp đều có dấu hiệu cơ đáy lưỡi bao quanh; dấu hiệu mỏ nhọn gặp ở 70,4%; kích thước 20–30 mm chiếm 55,6%; 74,1% trường hợp có đè đẩy nắp thanh môn. Toàn bộ u nang có ranh giới rõ, không thâm nhiễm mô xung quanh, không có thành phần đặc; 96,3% giảm tín hiệu trên T1W và 100% tăng tín hiệu trên T2W. Trên siêu âm, tất cả người bệnh có tuyến giáp ở vị trí bình thường (21/21); 95,2% tổn thương có đặc tính giảm âm và 100% có bờ ranh giới rõ.

Kết luận: U nang giáp lưỡi thể lưỡi trong nghiên cứu gặp chủ yếu ở nam giới trẻ tuổi, biểu hiện lâm sàng thường là nuốt vướng. Hình ảnh nội soi và cộng hưởng từ trong nghiên cứu có các đặc điểm chủ yếu gồm u nang đơn độc vùng đáy lưỡi, vị trí đường giữa, dấu hiệu cơ đáy lưỡi bao quanh, tín hiệu giảm trên T1W và tăng trên T2W.

Tài liệu tham khảo
[1]
1.Lê Tuấn Nhật Hoàng. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nang rò giáp – lưỡi thể lưỡi. Luận văn Bác sĩ nội trú. Trường Đại học Y Hà Nội; 2018. Google Scholar
[2]
2.Sameer KSM, Mohanty S, Correa MMA, Das K. Lingual thyroglossal duct cysts—A review. Int J Pediatr Otorhinolaryngol. 2012;76(2):165-168. doi:10.1016/j.ijporl.2011.11.025. Google Scholar
[3]
3.Shufen X, Shan S, Zhen L. Characteristics of lingual thyroglossal duct cysts under flexible laryngoscopy and treatment approaches. Am J Otolaryngol. 2022;43(2):103343. doi:10.1016/j.amjoto.2021.103343. Google Scholar
[4]
4.Zhang LC, Zhang TY, Sha Y, Lin YX, Chen Q. Lingual thyroglossal duct cyst with recurrence after cystectomy or marsupialization under endoscopy: Diagnosis and modified Sistrunk surgery. Laryngoscope. 2011;121(9):1888-1892. doi:10.1002/lary.21909. Google Scholar
[5]
5.Nguyễn Thị Huyền, Lê Văn Khảng, Phạm Tuấn Cảnh và cộng sự. Đặc điểm hình ảnh của nang giáp lưỡi thể lưỡi trên cộng hưởng từ. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2022;149(1):195-202. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v149i1.583 Google Scholar
[6]
6.Niu Y, Cui T, Li W, Jin X, Huo H, Wang J. Coblation-Assisted Transoral Endoscopic Excision of Lingual Thyroglossal Duct Cysts. J Otolaryngol Head Neck Surg. 2025;54:1-8. DOI: 10.1177/19160216251333351 Google Scholar
[7]
7.Li W, Ren YP, Shi YY, Zhang L, Bu RF. Presentation, Management, and Outcome of Lingual Thyroglossal Duct Cyst in Pediatric and Adult Populations. J Craniofac Surg. 2019;30(5):e442-e446. doi:10.1097/SCS.0000000000005522. Google Scholar