Mục tiêu: Đánh giá kết quả dự phòng loét tì đè bằng thuốc xịt chứa Glyceride độ oxy hóa cao (Sanyrene) kết hợp chăm sóc thường quy, đồng thời xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến loét tì đè.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả kết hợp can thiệp lâm sàng trên 72 bệnh nhân có nguy cơ loét tì đè cao hoặc rất cao theo thang điểm Braden (≤ 15 điểm), điều trị tại Trung tâm Hồi sức cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 1-8 năm 2025.
Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 73,19 ± 13,56 tuổi; nam giới chiếm 62,5%. Tỉ lệ loét tì đè là 15,3%. Trong số các trường hợp loét, loét độ I chiếm 54,5%, loét độ II chiếm 36,4%, loét độ III chiếm 9,1% và không ghi nhận loét độ IV. Thời gian xuất hiện loét trung bình là 4,6 ± 2,5 ngày. Vị trí loét thường gặp nhất là vùng cùng cụt (9,9%) và gót chân (7,0%). Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ loét tì đè gồm: điểm SOFA cao hơn (p = 0,01), albumin thấp hơn (p = 0,02), lactat máu cao hơn (p = 0,03), điểm Braden thấp hơn (p < 0,01) và tỉ lệ nghiêng trở thường xuyên thấp hơn (p = 0,04).
Kết luận: Việc sử dụng thuốc xịt chứa Glyceride độ oxy hóa cao kết hợp với các biện pháp chăm sóc chuẩn giúp duy trì tỉ lệ loét tì đè ở mức thấp và hạn chế xuất hiện loét nặng ở bệnh nhân ICU. Các yếu tố như mức độ bệnh nặng, giảm albumin máu, tăng lactat và điểm Braden thấp có liên quan đến nguy cơ loét tì đè.