Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT CỤC THAI KỲ CỦA NHỮNG TRƯỜNG HỢP TIỀN SẢN GIẬT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH DƯƠNG

Nguyễn Phương Vy, Đỗ Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Quốc Tuấn
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6611
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng và biến chứng của các dạng tiền sản giật; mô tả kết cục thai kỳ của những trường hợp tiền sản giật.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 113 trường hợp được chẩn đoán tiền sản giật. 

Kết quả: Theo thời điểm khởi phát, nhóm khởi phát muộn nhiều hơn khởi phát sớm (80,5% so với 19,5%); theo tuổi thai, tiền sản giật ở nhóm thai đủ tháng tương đương nhóm thai non tháng (50,44% so với 49,56%); theo mức độ nghiêm trọng của bệnh, tiền sản giật có dấu hiệu nặng cao hơn so với nhóm không có dấu hiệu nặng (70,8% so với 29,2%). Tuổi trung bình của thai phụ là 31,03 ± 8,03. Thai phụ có 2 con chiếm tỷ lệ cao nhất (51,3%). Nhóm có BMI ≥ 25 kg/m2 chiếm tỷ lệ cao (41,6%). Có 3 trường hợp (2,7%) sản giật; nhau bong non, hội chứng HELLP và băng huyết sau sinh 1 trường hợp (0,9%) mỗi biến chứng. Mổ lấy thai chiếm tỷ lệ cao (65,5%). Có 23 trường hợp (20,4%) gửi hồi sức sơ sinh.

Kết luận: Tiền sản giật là một bệnh lý nguy hiểm trong thai kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Bộ Y tế. Phân loại tiền sản giật. Trong: Hướng dẫn sàng lọc và điều trị dự phòng tiền sản giật. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2021. Google Scholar
[2]
[2] Mai Trọng Hưng, Đỗ Tuấn Đạt, Lê Văn Đạt và cộng sự. Kết quả sản khoa xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 554 (3): 376-380. doi: 10.51298/vmj.v554i3.15846 Google Scholar
[3]
[3] Dương Thị Thúy Nga, Đỗ Tuấn Đạt, Trương Quang Vinh và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thai phụ mắc tiền sản giật từ 28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2026, 558 (1): 359-363. doi: 10.51298/vmj.v558i1.16999 Google Scholar
[4]
[4] Phạm Văn Tự, Nguyễn Quốc Tuấn, Phùng Thị Lý. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả thai kỳ ở thai phụ tiền sản giật - sản giật tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Tạp chí Phụ Sản, 2021, 19 (1): 30-37. doi: 10.46755/vjog.2021.1.1181 Google Scholar
[5]
[5] Vũ Đình Nam, Phạm Thị Quỳnh Hoa. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả thai kỳ ở thai phụ tiền sản giật - sản giật tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Tạp chí Y học cộng đồng, 2024, 65 (3): 155-162. doi: 10.52163/yhc.v65i3.1071 Google Scholar
[6]
[6] Nguyễn Thị Huyền Anh, Nguyễn Đình Ký, Trương Thanh Hương. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sản khoa của sản phụ tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 552 (3): 193-197. doi: 10.51298/vmj.v552i3.15113 Google Scholar
[7]
[7] Nie X, Xu Z, Ren H. Analysis of risk factors of preeclampsia in pregnant women with chronic hypertension and its impact on pregnancy outcomes. BMC Pregnancy Childbirth, 2024, 24 (1): 307. doi: 10.1186/s12884-024-06476-1 Google Scholar
[8]
[8] Matot R, Narkis B, Geron Y, Hendin N, Houri O, Hazan S.B, Hadar E, Shmueli A. Divergent profiles in early and late postpartum preeclampsia. Pregnancy Hypertens, 2026, 43: 101422. doi: 10.1016/j.preghy.2026.101422. Google Scholar
[9]
[9] Nguyễn Thái Giang, Nguyễn Việt Thắng. Đánh giá kết quả thai kỳ của sản phụ đái tháo đường có tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2026, 558 (1): 143-147. doi: 10.51298/vmj.v558i1.16943 Google Scholar
[10]
[10] Wainstock T, Sheiner E. Clinical factors associated with preeclampsia recurrence. Pregnancy Hypertension, 2022, 30: 31-35. doi: 10.1016/j.preghy.2022.08.004. Google Scholar