Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 17/09/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH HALO NEVUS TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Trần Thị Nhị Sương, Lê Hữu Doanh, Vũ Huy Lượng, Đỗ Thị Thu Hiền
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6571
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh Halo nevus tại bệnh viện Da liễu Trung ương. Đối tượng và phương pháp: Chọn mẫu thuận tiện, nghiên cứu mô tả một loạt ca bệnh, gồm 51 bệnh nhân được chẩn đoán Halo nevus tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ 8/2025 đến 6/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 17,78 ± 9,29 tuổi, tuổi khởi phát trung bình là 14,94 ± 9,24 tuổi; nhóm tuổi < 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (90,2%). Phân bố bệnh ở nam 64,71% và ở nữ 35,29%. Các tổn thương phân bố ở thân mình 45,10% và vùng mặt 33,33%. Tỷ lệ đồng mắc bạch biến chiếm 76,47%. Khi soi đèn Wood, 96,08% tổn thương Halo nevus có ranh giới quầng trắng rõ ràng so với vùng da lành. Khi chụp dermoscope, 90,2% trường hợp có hình ảnh điển hình là quầng trắng không cấu trúc bao quanh nốt ruồi trung tâm, đối xứng. Có 15/15 trường hợp xét nghiệm mô bệnh học có hiện diện của đại thực bào có chứa sắc tố. Trong số 46 trường hợp có chỉ định thực hiện xét nghiệm miễn dịch cho thấy FT3 tăng ở 32,61%, FT4 tăng ở 4,35%, TSH tăng ở 78,26% và 24/42 trường hợp có TRAb tăng chiếm 57,15%. Kết luận: Halo nevus gặp chủ yếu ở người trẻ tuổi, ảnh hưởng chủ yếu đến thẩm mỹ của người bệnh. Vì vậy, cần được khám, theo dõi và có biện pháp can thiệp phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh và quản lý chặt chẽ.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Weyant GW, Chung CG, Helm KF. Halo nevus: review of the literature and clinicopathologic findings. International journal of dermatology. Oct 2015;54(10):e433-5. doi:10.1111/ijd.12843 Google Scholar
[2]
2. Zhou H, Wu LC, Chen MK, Liao QM, Mao RX, Han JD. Factors Associated with Development of Vitiligo in Patients with Halo Nevus. Chinese medical journal. Nov 20 2017;130(22):2703-2708. doi:10.4103/0366-6999.218011 Google Scholar
[3]
3. Nguyễn Văn Thường. Hình ảnh lâm sàng, chẩn đoán và điều trị trong chuyên ngành Da liễu. vol 2. Nhà xuất bản Y hoc; 2019. Google Scholar
[4]
4. Zeff RA, Freitag A, Grin CM, Grant-Kels JM. The immune response in halo nevi. Journal of the American Academy of Dermatology. Oct 1997;37(4):620-4. doi:10.1016/s0190-9622(97)70181-6 Google Scholar
[5]
5. DermNet New Zealand. Halo naevus (Sutton naevus). https://dermnetnz.org/topics/halo-naevus Google Scholar
[6]
6. Picardo M, Dell'Anna ML, Ezzedine K, et al. Vitiligo. Nature reviews Disease primers. Jun 4 2015;1:15011. doi:10.1038/nrdp.2015.11 Google Scholar
[7]
7. Kolm I, Di Stefani A, Hofmann-Wellenhof R, et al. Dermoscopy patterns of halo nevi. Archives of dermatology. Dec 2006;142(12):1627-32. doi:10.1001/archderm.142.12.1627 Google Scholar
[8]
8. Ezzedine K, Eleftheriadou V, Whitton M, van Geel N. Vitiligo. Lancet (London, England). Jul 4 2015;386(9988):74-84. doi:10.1016/s0140-6736(14)60763-7 Google Scholar
[9]
9. Van Geel N, Speeckaert R, Taieb A, et al. Koebner's phenomenon in vitiligo: European position paper. Pigment cell & melanoma research. Jun 2011;24(3):564-73. doi:10.1111/j.1755-148X.2011.00838.x Google Scholar
[10]
10. Porto AC, Blumetti TP, de Paula Ramos Castro R, et al. Recurrent halo nevus: Dermoscopy and confocal microscopy features. JAAD case reports. May 2017;3(3):256-258. doi:10.1016/j.jdcr.2017.02.020 Google Scholar