Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 17/09/2026

KẾT QUẢ DI TRUYỀN TỪ DỊCH ỐI CỦA THAI PHỤ CÓ XÉT NGHIỆM TRƯỚC SINH KHÔNG XÂM LẤN NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Thị Bích Vân, Nguyễn Xuân Thanh, Lê Thiệu Quyết, Cao Văn Hùng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6562
1 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kết quả di truyền từ dịch ối có xét nghiệm trước sinh không xâm lấn nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 303 thai phụ có kết quả xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) nguy cơ cao đến chọc ối tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Kết quả: Tuổi trung bình của thai phụ là 31,02 ± 6,4 tuổi; phần lớn có trình độ đại học và thụ thai tự nhiên. Đa số thai phụ thực hiện NIPT tại các cơ sở tư nhân, chiếm 84,8%. Trong các kết quả NIPT có lệch bội, trisomy 21 chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,3%, tiếp theo là monosomy X (17,5%) và 47,XXY (14,2%). Kết quả di truyền từ dịch ối cho thấy tỷ lệ bất thường được xác nhận khá cao, lần lượt là 77,6% với Karyotype, 73,7% với QF-PCR, 68,1% với BOBS và 25% với CMA/Array. Trong các bất thường phát hiện được, trisomy 21 vẫn là bất thường thường gặp nhất.

Kết luận: Kết quả cho thấy NIPT có giá trị trong sàng lọc bất thường nhiễm sắc thể, tuy nhiên các trường hợp nguy cơ cao cần được chọc ối để xác định chẩn đoán trước khi quyết định quản lý thai kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Evans M.I, Andriole S, Evans S.M. Genetics: update on prenatal screening and diagnosis. Obstetrics and Gynecology Clinics, 2015, 42 (2): 193-208. doi: 10.1016/j.ogc.2015.01.011 Google Scholar
[2]
[2] Dương Chí Thành, Nguyễn Văn Huynh, Nguyễn Quang Vinh và cộng sự. Sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT và ứng dụng trên 7015 thai phụ tại Trung tâm Xét nghiệm Quốc tế GENTIS. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 503 (2): 94-98. doi: 10.51298/vmj.v503i2.774 Google Scholar
[3]
[3] Benn P, Borrell A, Chiu R.W et al. Position statement from the Chromosome Abnormality Screening Committee on behalf of the Board of the International Society for Prenatal Diagnosis. Prenatal Diagnosis, 2015, 35 (8): 725-734. doi: 10.1002/pd.4608. Google Scholar
[4]
[4] Ghi T, Sotiriadis A, Calda P et al. ISUOG Practice Guidelines: invasive procedures for prenatal diagnosis. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 2016, 48 (2): 256-268. doi: 10.1002/uog.15945. Google Scholar
[5]
[5] Hà Thị Tiểu Di và cộng sự. Bước đầu đánh giá kết quả chọc ối xét nghiệm nhiễm sắc thể thai nhi tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng. Tạp chí Phụ Sản, 2017, 15 (3): 23-30. doi: 10.46755/vjog.2017.3.409 Google Scholar
[6]
[6] Đỗ Thị Thanh Thủy, Lâm Vĩnh Niên, Vũ Trần Hoài Hân và cộng sự. Xác định giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm tiền sinh không xâm lấn NIPT Trisure trong thực hành lâm sàng. Tạp chí Y học Việt Nam, 2020, 503 (1): 172-178. Google Scholar
[7]
[7] Trần Minh Thắng, Nguyễn Thị Tuyết Trinh, Đặng Văn Tân và cộng sự. Nghiên cứu giá trị của xét nghiệm NIPT dương tính và kết quả chọc ối tại Trung tâm Sản Phụ khoa, Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Phụ Sản, 2024, 22 (5): 30-36. doi: 10.46755/vjog.2024.5.1787 Google Scholar
[8]
[8] Nguyễn Mạnh Thắng. Rối loạn nhiễm sắc thể ở thai phụ có kết quả sàng lọc nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 503 (1): 91-94. doi: 10.51298/vmj.v503i1.702 Google Scholar
[9]
[9] Liu S, Yang F, Chang Q et al. Positive predictive value estimates for noninvasive prenatal testing from data of a prenatal diagnosis laboratory and literature review. Molecular Cytogenetics, 2022, 15 (1): 29. doi: 10.1186/s13039-022-00607-z. Google Scholar
[10]
[10] Guy C, Haji S.F, Rowland C.M et al. Prenatal cell-free DNA screening for fetal aneuploidy in pregnant women at average or high risk: results from a large US clinical laboratory. Molecular Genetics & Genomic Medicine, 2019, 7 (3): e545. doi: 10.1002/mgg3.545. Epub 2019 Jan 31. Google Scholar