Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 09/09/2026

KẾT QUẢ GÂY MÊ LƯU LƯỢNG THẤP BẰNG DESFLURANE TRONG PHẪU THUẬT LẤY SỎI ỐNG MẬT CHỦ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2025: NHẬN XÉT 22 TRƯỜNG HỢP

Phạm Hòa Hưng1,2, Phạm Văn Hiệu3,4, Tào Công Phú3,4, Phạm Văn Chinh3,4, Nguyễn Ngọc Hào5,6, Nguyễn Văn Quang3,4, Phạm Trung Đức3,4, Vũ Văn Thức3,4
1 Vinmec Ha Long General Hospital
2 Bệnh viện đa khoa Vinmec Hạ Long
3 Quang Ninh Provincial General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh
5 Ngoc Lan International General Clinic
6 Phòng khám đa khoa quốc tế Ngọc Lan
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6518
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng ảnh hưởng tới tác dụng gây mê và kết quả gây mê lưu lượng thấp bằng Desflurane trên bệnh nhân phẫu thuật sỏi ống mật chủ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 22 bệnh nhân phẫu thuật lấy sỏi ống mật chủ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, được tiến hành từ tháng 03/2025 đến tháng 09/2025.

Kết quả: Thời gian phẫu thuật là 110,32 ± 22,14, ngắn nhất là 90 phút, dài nhất là 150 phút. Thời gian gây mê là 122,45 ± 28,26 phút, ngắn nhất là 100 phút, dài nhất là 180 phút. Tổng liều Fentanyl trung bình dùng trong mổ là 295,72 ± 98,35 µg, tối thiểu là 150 µg và tối đa là 450 µg. Thời gian tỉnh trung bình là 8,72 ± 3,45 phút, ngắn nhất là 3 phút, dài nhất là 20 phút. Sự thay đổi về HATB, nhịp tim, Spo2, ETCO2 duy trì ở mức ổn định ở các thời điểm so với T0 trong suốt quá trình phẫu thuật. Trong nghiên cứu không có bệnh nhân nào có điểm PRST ≥ 2 điểm, tại thời điểm T1 có 1 bệnh nhân có điểm PRST = 1. Ngay sau rút nội khí quản và sau 5 phút, có 8 bệnh nhân trả lời đau ngay sau rút NKQ, chiếm 36,36%. Tất cả các bệnh nhân đều trả lời chính xác tên, tuổi và địa chỉ. Chất lượng gây mê đạt 100% ở mức độ tốt. Trong giai đoạn hồi tỉnh, bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn, nôn là 10 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 45,45%. Có 2 bệnh nhân có biểu hiện rét run, chiếm tỉ lệ 9,10%.

Kết luận: Gây mê bằng Desflurane duy trì được huyết động ổn định, hiệu quả gây mê tốt, thời gian hồi tỉnh nhanh, chất lượng hồi tỉnh cao.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Nguyễn Thị Kim Bích Liên. Gây mê hồi sức trong phẫu thuật đường mật. Bài giảng Gây mê Hồi sức.2. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2002:160-169. Google Scholar
[2]
2. Nguyễn Thụ, Đào Văn Phan, Công Quyết Thắng. Thuốc mê. Dược lý học lâm sàng. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2003. Google Scholar
[3]
3. Evans JM, Davies WL (1984). Monitoring anaesthesia. Clinics in anaesthesiology, 2(1), 243-262. Google Scholar
[4]
4. Bùi Ích Kim. Dược lý học lâm sàng các thuốc mê hô hấp. Bài giảng Gây mê Hồi sức.Tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2002. Google Scholar
[5]
5. Phí Thị Hoa, Nguyễn Quốc Kính (2024). Đánh giá tác động của gây mê dòng tối thiểu với Desflurane lên thời gian thoát mê và lượng tiêu thụ khí mê trên bệnh nhân phẫu thuật cột sống thắt lưng. Tạp chí Y học Việt Nam, 547(1), 244-248. Google Scholar
[6]
6. Đặng Minh Hiệu, Lê Hữu Trí, Hà Quốc Hùng, Nguyễn Thị Nghi, Phan Tôn Ngọc Vũ, Nguyễn Thị Phương Dung (2025). So sánh chất lượng tỉnh mê của Desflurane và sevoflurane trên phẫu thuật nội soi mũi xoang. Tạp chí Y học Việt Nam, 549(2), 144-148. Google Scholar
[7]
7. Erk G, Erdogan G, Sahin F, Taspinar V, Dikmen B (2007). Anesthesia for laparoscopic cholecystectomy: comparative evaluation--desflurane/sevoflurane vs. propofol. Middle East Journal of Anaesthesiology, 19(3), 553-562. Google Scholar
[8]
8. Welborn LG, Hannallah RS, Norden JM, Ruttimann UE, Callan CM (1996). Comparison of emergence and recovery characteristics of sevoflurane, desflurane, and halothane in pediatric ambulatory patients. Anesthesia & Analgesia, 83(5), 917-920. Google Scholar
[9]
9. Apfel CC, Kranke P, Katz MH, et al. (2002). Volatile anaesthetics may be the main cause of early but not delayed postoperative vomiting: a randomized controlled trial of factorial design. Br J Anaesth, 88(5), 659-668. Google Scholar
[10]
10. Sloan MH, Conard PF, Karsunky PK, Gross JB (1996). Sevoflurane versus isoflurane: induction and recovery characteristics with single-breath inhaled inductions of anesthesia. Anesthesia & Analgesia, 82(3), 528-532. Google Scholar