Mục tiêu: Khảo sát tình trạng dinh dưỡng lúc nhập viện và sự thay đổi nguy cơ suy dinh dưỡng sau 7 ngày điều trị của người bệnh tại khoa hồi sức tích cực.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Chọn mẫu thuận tiện, cỡ mẫu là 102.
Kết quả: Giới nam chiếm 63,7%, tuổi trung bình 59 (42-69 tuổi). Nhóm người bệnh mắc từ 3 bệnh trở chiếm 35,3%. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lúc nhập khoa hồi sức tích cực, người bệnh có thở máy xâm nhập chiếm tỷ lệ 90,2%, có sử dụng vận mạch là 61,8%, điểm trung bình của hemoglobin là 117,49 ± 21,58. Tỷ lệ người bệnh nhiễm trùng và lọc máu lần lượt là 70,6% và 57,8%. Điểm trung bình của thang điểm SOFA là 10,9 ± 3,00 và APACHE II là 17,41 ± 5,72. Trong 24 giờ đầu, BMI 22,18 ± 3,08 kg/m2, nhóm albumin từ 28 đến dưới 35 g/L chiếm 48%, nhóm SGA-B chiếm 52%, điểm NRS 3,15 ± 1,12, nhóm NRS ≥ 3 chiếm 70,6%, điểm MNS 4,75 ± 1,90, nhóm MNS ≥ 5 điểm chiếm 54,9%. Sau 7 ngày điều trị, điểm MNS trung bình giảm có ý nghĩa thống kê (p = 0,006), tuy nhiên sự thay đổi về phân loại mức độ nguy cơ suy dinh dưỡng không có nghĩa thống kê (p > 0,05). Nồng độ hemoglobin trung bình giảm có ý nghĩa sau 1 tuần điều trị (p < 0,001).
Kết luận: Đa số người bệnh hồi sức tích cực có nguy cơ suy dinh dưỡng trung bình, cao.