Mục tiêu: Xác định các đột biến gen BRCA1, BRCA2 và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, tiến hành trên 103 bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Kỹ thuật xét nghiệm: dùng mẫu máu ngoại vi và áp dụng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) để khảo sát các gen BRCA1/2. Phân tích số liệu: các biến thể được phân loại theo ý nghĩa lâm sàng; mối liên quan giữa tình trạng đột biến với ung thư vú thể tam âm và tình trạng HER2 được phân tích bằng tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (95%CI) và giá trị p.
Kết quả: Trong nhóm bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao được khảo sát tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, tỷ lệ phát hiện biến thể BRCA1/2 có thể gây bệnh là 9,7%. Các biến thể ghi nhận chủ yếu thuộc nhóm biến thể vô nghĩa và dịch khung, đều được dự đoán gây cắt cụt protein. Trong đó, biến thể BRCA2:c.6490C>T (p.Gln2164Ter) là biến thể gặp nhiều nhất, được phát hiện ở 4/10 bệnh nhân mang biến thể có thể gây bệnh. Phần lớn các biến thể đã được ghi nhận trên ClinVar; riêng biến thể BRCA1:c.872_873del (p.Leu291Serfs*3) chưa được báo cáo trong cơ sở dữ liệu này tại thời điểm phân tích. Đáng chú ý, bệnh nhân mang biến thể BRCA1/2 có thể gây bệnh có khả năng thuộc nhóm HER2 âm tính và ung thư vú thể tam âm cao hơn so với nhóm không mang biến thể, với OR lần lượt là 4,86 và 5,47; p tương ứng là 0,048 và 0,015.
Kết luận: Tỷ lệ phát hiện biến thể gây bệnh/có khả năng gây bệnh trên gen BRCA1/2 ở nhóm bệnh nhân ung thư vú nguy cơ cao tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An là 9,7%. Các biến thể ghi nhận chủ yếu là biến thể gây cắt cụt protein, gồm biến thể vô nghĩa và dịch khung; trong đó BRCA2:c.6490C>T (p.Gln2164Ter) là biến thể gặp nhiều nhất. Bệnh nhân mang biến thể BRCA1/2 gây bệnh/có khả năng gây bệnh có xu hướng liên quan với kiểu hình HER2 âm tính và ung thư vú thể tam âm.