Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 19/09/2026

ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ MÔ HÌNH SÀNG LỌC TIỀN SẢN GIẬT CỦA FETAL MEDICINE FOUNDATION (FMF) CÓ KẾT HỢP DẤU ẤN SINH HỌC PLACENTAL GROWTH FACTOR (PlGF) TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI QUẢNG NINH

Nguyễn Thị Thưởng, Bùi Minh Cường, Trương Hữu Cương, Đỗ Quỳnh Hoa
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6474
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Tiền sản giật là nguyên nhân quan trọng gây bệnh tật và tử vong mẹ - thai. Mô hình sàng lọc của Fetal Medicine Foundation (FMF) kết hợp yếu tố tăng trưởng nhau thai (Placental Growth Factor - PlGF) được khuyến cáo để phát hiện sớm nguy cơ tiền sản giật trong quý I thai kỳ.

Mục tiêu: Đánh giá giá trị của mô hình sàng lọc tiền sản giật FMF có kết hợp PlGF tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh.

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả có theo dõi dọc trên 1.187 thai phụ đơn thai (11 tuần 3 ngày–13 tuần 6 ngày) được sàng lọc theo mô hình FMF từ 11/2023 đến 12/2025. Giá trị dự báo được đánh giá bằng đường cong ROC, diện tích dưới đường cong (AUC) và Odds ratio (OR).

Kết quả: Nhóm nguy cơ cao có nồng độ PlGF và PlGF (MoM) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm nguy cơ thấp (p < 0,001). PlGF và PlGF (MoM) có giá trị dự báo với AUC lần lượt là 0,740,77. Khi PlGF ≤44,55 pg/mL hoặc PlGF (MoM) ≤0,73, nguy cơ thuộc nhóm nguy cơ cao tăng tương ứng 7,137,12 lần (p < 0,001). Mô hình kết hợp MAP, UtA-PI và PlGF cho hiệu quả dự báo cao nhất với AUC = 0,891.

Kết luận: PlGF là dấu ấn sinh học có giá trị trong sàng lọc sớm nguy cơ tiền sản giật theo mô hình FMF. Kết hợp PlGF với MAP và UtA-PI giúp nâng cao khả năng phân tầng nguy cơ và dự báo tiền sản giật trong quý I thai kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Abalos E, Cuesta C, Grosso AL, Chou D, Say L. Global and regional estimates of preeclampsia and eclampsia: a systematic review. Reprod Health. 2013;10(Suppl 1):S1. Google Scholar
[2]
[2] Wu P, Haththotuwa R, Kwok CS, et al. Preeclampsia and future cardiovascular health: a systematic review and meta-analysis. Circulation. 2017;135(8):799–812. Google Scholar
[3]
[3] Bartsch E, Medcalf KE, Park AL, Ray JG. Clinical risk factors for pre-eclampsia determined in early pregnancy: systematic review and meta-analysis. BMJ. 2016;353:i1753. Google Scholar
[4]
[4] Wright D, Syngelaki A, Akolekar R, et al. Competing risks model in screening for preeclampsia by maternal characteristics and biomarkers. Am J Obstet Gynecol. 2015;213(1):62.e1–62.e10. Google Scholar
[5]
[5] Bộ Y tế. Hướng dẫn sàng lọc và điều trị dự phòng TSG. Quyết định số 1911/QĐ-BYT ngày 19/4/2021. Hà Nội: Bộ Y tế; 2021. Google Scholar
[6]
[6] Bộ Y tế. Hướng dẫn sàng lọc, chẩn đoán và xử trí tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai, TSG và sản giật. Quyết định số 1154/QĐ-BYT ngày 04/5/2024. Hà Nội: Bộ Y tế; 2024. Google Scholar
[7]
[7] Poon LC, Kametas NA, Pandeva I, Valencia C, Nicolaides KH. Mean arterial pressure at 11–13 weeks’ gestation. Hypertension. 2009;53(5):812–818 Google Scholar
[8]
[8] Melchiorre K, Wormald B, Leslie K, et al. Uterine artery Doppler at 11–14 weeks. Ultrasound Obstet Gynecol. 2008;31(6):613–620. Google Scholar
[9]
[9] Poon LC, Akolekar R, Lachmann R, et al. Maternal serum PLGF in prediction of preeclampsia. Ultrasound Obstet Gynecol. 2009;33(2):135–141. Google Scholar