Mục tiêu: Khảo sát nồng độ sdLDL-C và xác định mối liên quan giữa sdLDL-C với một số chỉ số hóa sinh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 64 bệnh nhân đái tháo đường type 2. Số liệu phân tích bằng IBM SPSS Statistics 26.0, sử dụng thống kê mô tả, kiểm định Mann–Whitney U, Kruskal–Wallis, tương quan Spearman và hồi quy tuyến tính đa biến.
Kết quả: Trung vị nồng độ sdLDL-C là 1,10 mmol/L (0,77–1,38). sdLDL-C cao hơn ở nhóm HbA1c ≥ 7%, triglycerid ≥ 1,7 mmol/L và LDL-C ≥ 2,6 mmol/L so với các nhóm tương ứng có HbA1c < 7% (p = 0.003), triglycerid < 1,7 mmol/L và LDL-C < 2,6 mmol/L (p < 0,001). sdLDL-C tương quan thuận với cholesterol toàn phần (rₛ = 0,753; p < 0,001), LDL-C (rₛ = 0,696; p < 0,001), triglycerid (rₛ = 0,519; p < 0,001), glucose (rₛ = 0,452; p < 0,001) và HbA1c (rₛ = 0,370; p = 0,003), nhưng không tương quan có ý nghĩa thống kê với hs-CRP. Trong mô hình đa biến, LDL-C và triglycerid liên quan độc lập với sdLDL-C.
Kết luận: Nồng độ sdLDL-C là 1,10 mmol/L (0,77–1,38). Nồng độ sdLDL-C cao hơn ở các nhóm HbA1c ≥ 7%, triglycerid ≥ 1,7 mmol/L hoặc LDL-C ≥ 2,6 mmol/L. LDL-C và triglycerid là hai yếu tố liên quan độc lập với sdLDL-C trong nghiên cứu này. Xét nghiệm sdLDL-C có thể bổ sung thông tin về kiểu hình lipid sinh xơ vữa nhưng không thay thế các thông số lipid thường quy.