Mục tiêu: mô tả sự phân bố ACR ở các nhóm eGFR và tương quan giữa ACR với eGFR từ đó làm rõ vai trò bổ sung của ACR khi đánh giá BTM và mô tả phân tầng nguy cơ BTM theo KDIGO dựa trên phối hợp eGFR và ACR.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 475 người bệnh BTM tại Bệnh viện Thống Nhất. Các biến số được thu thập gồm tuổi, giới, tình trạng đái tháo đường (ĐTĐ), tăng huyết áp (THA), creatinin máu, eGFR, albumin niệu, creatinin niệu và tính toán giá trị ACR. Theo phân loại KDIGO, eGFR được chia thành các nhóm G1 đến G5 và albumin niệu được chia thành các nhóm A1, A2 và A3 dựa trên ACR. Mức nguy cơ BTM được phân loại theo KDIGO dựa trên phối hợp nhóm eGFR và nhóm albumin niệu.
Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 66,12 ± 11,90 tuổi, nam giới chiếm 52,84%. Tỷ lệ người bệnh có bệnh đồng mắc ĐTĐ và THA lần lượt là 90,53% và 71,37%. eGFR trung vị là 74,29 mL/phút/1,73 m² và ACR trung vị là 23,41 mg/g. Trong đó, G1 và G2 chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 30,32% và 33,68%. Phân loại theo nhóm ACR, nhóm người bệnh có albumin niệu tăng (ACR ≥30 mg/g) là 46,32%. Trong nhóm người bệnh có eGFR G1, G2 có 33,22% albumin niệu tăng. Khi phân tầng theo KDIGO, nhóm nguy cơ trung bình trở lên là 57,26%. ACR tương quan nghịch mức trung bình với eGFR với hệ số tương quan là -0,3726.
Kết luận Gần một nửa người bệnh có ACR ≥30 mg/g và hơn một phần ba thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc rất cao theo KDIGO. ACR tương quan nghịch mức trung bình với eGFR, cho thấy vai trò bổ sung của albumin niệu trong phân tầng nguy cơ bệnh thận mạn.