Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 19/09/2026

TỶ LỆ THIẾU VITAMIN D VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ VITAMIN D VỚI MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH LIÊN QUAN ĐẾN CHUYỂN HÓA XƯƠNG Ở NỮ NHÂN VIÊN Y TẾ TỪ 45-55 TUỔI

Nguyễn Thị Diệp Anh, Trần Thanh Dương, Vũ Thị Huyền Trang, Trần Khánh Chi, Phạm Thị Đức Hạnh, Phạm Ngọc Thiện
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6459
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu:  Xác định tỷ lệ thiếu vitamin D (Vit.D) và mối tương quan giữa nồng độ Vit.D với nồng độ canxi ion, phospho và PTH huyết tương ở nữ nhân viên y tế 45-55 tuổi.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 406 nữ nhân viên y tế 45-55 tuổi hiện đang công tác tại một số cơ sở y tế trong nội thành Hà Nội và tại một số cơ sở y tế ở tỉnh Thái Nguyên. Thời gian thực hiện từ tháng 1/2025 đến tháng 4/2026.

Kết quả: Tỷ lệ thiếu và đủ Vit.D khi phân loại theo ngưỡng < 30 ng/mL lần lượt là 79,8% và 20,2%; khi áp dụng ngưỡng < 20 ng/mL các tỷ lệ tương ứng là 19,7% và 80,3%. Nồng độ trung bình của Vit.D, canxi ion, phospho và PTH lần lượt là 26,04 ± 7,14 ng/mL; 1,15 ± 0,10 mmol/L; 0,95 ± 0,17 mmol/L và 3,74 ± 1,79 pmol/L. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (YNTK) về nồng độ canxi ion giữa nhóm thiếu và nhóm đủ Vit.D ở cả hai ngưỡng < 20 và < 30 ng/mL (p<0,001 trong cả hai trường hợp), trong khi không có khác biệt có ý nghĩa về phospho và PTH (p>0,05). Vit.D có tương quan thuận với canxi ion (rho=0,280; p<0,001), tương quan thuận yếu với phospho (rho=0,115; p=0,022) và yếu tố về tuổi (rho=0,114; p=0,023). Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa giữa Vit.D và PTH.

Kết luận: Ở nhân viên y tế nữ từ 45–55 tuổi, tỷ lệ có nồng độ Vit.D dưới 30 ng/mL là 79,8%, trong đó tỷ lệ thiếu Vit.D dưới 20 ng/mL là 19,7%. Nồng độ Vit.D tương quan thuận mức độ yếu với canxi ion, phospho và yếu tố tuổi, trong đó mối tương quan với canxi ion rõ hơn so với các yếu tố còn lại.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Ross, A. C., Taylor, C. L., Yaktine, A. L., & Del Valle, H. B. (Eds.). (2011). Dietary reference intakes for calcium and vitamin D. National Academies Press. Google Scholar
[2]
2. Holick, M. F., Binkley, N. C., Bischoff-Ferrari, H. A., Gordon, C. M., Hanley, D. A., Heaney, R. P., Murad, M. H., & Weaver, C. M. (2011). Evaluation, treatment, and prevention of vitamin D deficiency: An Endocrine Society clinical practice guideline. Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 96(7), 1911–1930. Google Scholar
[3]
3. Wei, X., Chen, X., et al. (n.d.). Prevalence of vitamin D inadequacy among Chinese postmenopausal women: A nationwide, multicenter, cross-sectional study. PMC6330713. Google Scholar
[4]
4. [Systematic review author(s) not yet verified]. (n.d.). Therapeutic regimens for vitamin D deficiency in postmenopausal women: A systematic review. [Tên tạp chí chưa xác định]. PMC6528036. Google Scholar
[5]
5. Ho-Pham, L. T., Nguyen, N. D., Lai, T. Q., Eisman, J. A., & Nguyen, T. V. (2011). Vitamin D status and parathyroid hormone in a urban population in Vietnam. Osteoporosis International, 22(1), 241–248. Google Scholar
[6]
6. Brot, C., Jørgensen, N., Madsen, O. R., Jensen, L. B., Sørensen, O. H., & Hyldstrup, L. (1999). Relationships between bone mineral density, serum vitamin D metabolites and calcium:phosphorus intake in healthy perimenopausal women. Journal of Internal Medicine, 245(3), 259–265. Google Scholar
[7]
7. Weisinger, J. R., et al. (n.d.). Serum ionized calcium, as well as phosphorus and parathyroid hormone, is associated with the plasma 1,25-dihydroxyvitamin D3 concentration in normal postmenopausal women.. Google Scholar
[8]
8. Falch, J. A., Oftebro, H., & Haug, E. (1987). Early postmenopausal bone loss is not associated with a decrease in circulating levels of 25-hydroxyvitamin D, 1,25-dihydroxyvitamin D, or vitamin D-binding protein. Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 64(4), 836–841. Google Scholar
[9]
9. Bùi, T. T., Nguyễn, T. H., Phạm, T. T. H., Nguyễn, C. Y., Trần, T. P., Hoàng, T. H., & Diêm, T. H. (2024). Mối liên quan giữa nồng độ một số vi chất dinh dưỡng và mật độ xương của phụ nữ trưởng thành tới khám tại Viện Dinh dưỡng năm 2021. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 20(6), 103–112. https://doi.org/10.56283/1859-0381/794 Google Scholar