Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích giá trị dự báo một số chỉ số sinh hóa và huyết học với kết cục thai kỳ bất lợi.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 243 hồ sơ bệnh án của các thai phụ được chẩn đoán là TSG không có dấu hiệu nặng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/2023 đến 6/2025.
Kết quả: Có 66,67% (162/243) thai phụ tiến triển thành kết cục bất lợi. Nhóm kết cục bất lợi có tuổi thai khởi phát sớm hơn 31,92 ± 3,19 so với 35,74 ± 1,50. Có biến đổi rõ rệt của các chỉ số sinh hóa (tăng protein niệu, acid uric, ure, creatinin, AST, LDH; giảm albumin) và đông máu (giảm fibrinogen) (p < 0,05). Số lượng tiểu cầu không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Mô hình hồi quy đa biến xác định được 5 yếu tố có giá trị tiên lượng độc lập bao gồm: tiền sử sinh con nhỏ hơn tuổi thai (aOR = 19,03), tuần thai khởi phát bệnh (aOR = 0,36), huyết áp tâm thu (aOR = 1,11), nồng độ acid uric máu (aOR = 1,01) và APTT (aOR = 1,22). Mô hình đạt diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,9463, với độ nhạy 86,42%, độ đặc hiệu 87,65% và giá trị tiên đoán dương (PPV) lên tới 93,33%.
Kết luận: Nghiên cứu đã xây dựng mô hình đa biến tích hợp 5 yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng thường quy có giá trị tiên lượng xuất sắc, hỗ trợ các bác sĩ phân tầng nguy cơ, ra quyết định can thiệp kịp thời, giảm tối đa biến cố và có thể áp dụng ở các tuyến y tế cơ sở.