Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 10/09/2026

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐAU KHI THỰC HIỆN THỦ THUẬT Ở NGƯỜI BỆNH THỞ MÁY TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC VÀ    CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN 19-8 NĂM 2025

Hoàng Nguyễn Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6420
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả mức độ đau khi hút đờm, thay đổi tư thế và chăm sóc răng miệng bằng thang Behavioral Pain Scale (BPS), đồng thời khảo sát một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 145 người bệnh thở máy xâm nhập tại Khoa Điều trị tích cực và Chống độc, Bệnh viện 19-8 (12/2024–09/2025). Mỗi người bệnh được đánh giá một lần ở từng thủ thuật, tương ứng 435 lượt đánh giá; từng thủ thuật được phân tích riêng với 145 người bệnh. BPS được ghi trong lúc thao tác; BPS ≥7 được quy ước là đau từ mức trung bình trở lên. Tương quan RASS–BPS được đánh giá bằng Spearman; so sánh hai nhóm bằng Mann–Whitney. Các so sánh tại Bảng 3.5 được xem là phân tích đơn biến thăm dò và được kiểm tra bằng hiệu chỉnh Holm. Kết quả: Tỷ lệ BPS ≥7 là 77,9% khi hút đờm, 51,7% khi thay đổi tư thế và 26,9% khi chăm sóc răng miệng. RASS tương quan thuận với BPS ở cả ba thủ thuật (rho = 0,31–0,35; p<0,001). Một số khác biệt đơn biến theo giới, bệnh lý, phương thức thở và sử dụng an thần/giảm đau có p thô <0,05; các khác biệt này không còn đạt ngưỡng ý nghĩa sau hiệu chỉnh Holm và được xem là những xu hướng cần kiểm chứng. Kết luận: Trong mẫu nghiên cứu, BPS ≥7 được ghi nhận nhiều nhất khi hút đờm. Mối liên quan giữa RASS và BPS được ghi nhận nhất quán; các xu hướng ở phân tích phân nhóm có thể gợi ý đối tượng cần được đánh giá đau kỹ hơn nhưng chưa đủ để khẳng định yếu tố liên quan độc lập hoặc hiệu quả điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Nguyễn Thị Kiều Trang, Hoàng Bùi Hải, Nguyễn Thị Sơn, Đàm Thị Hương Lan, Đinh Thị Thanh Huệ. Đánh giá tình trạng đau bằng thang điểm đánh giá mức độ đau dựa trên hành vi (BPS) trong chăm sóc người bệnh thở máy xâm nhập. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;546(3):107–111. doi:10.51298/vmj.v546i3.12706. Google Scholar
[2]
2. Hoàng Thị Thu Thanh, Nguyễn Văn Chinh, Huỳnh Thị Phượng, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Như Mai, Phạm Thị Thu Hằng, Lê Thị Hoàn, Phạm Thị Nhã Phương, Ka Thơm, Trần Thị Phương Dung. Đánh giá mức độ đau khi thực hiện thủ thuật của người bệnh thở máy tại Khoa Hồi sức Ngoại thần kinh, Bệnh viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;543(3):216–220. doi:10.51298/vmj.v543i3.11557. Google Scholar
[3]
3. Dương Minh Đức, Chu Văn Long, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Thị Ngọc. Đánh giá mức độ đau bằng thang điểm CPOT trên người bệnh thở máy tại Khoa Nội – Hồi sức Thần kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tạp chí Điều dưỡng Việt Nam. 2021:46–52. Google Scholar
[4]
4. Devlin JW, Skrobik Y, Gélinas C, et al. Clinical practice guidelines for the prevention and management of pain, agitation/sedation, delirium, immobility, and sleep disruption in adult patients in the ICU. Crit Care Med. 2018;46(9):e825–e873. doi:10.1097/CCM.0000000000003299. Google Scholar
[5]
5. Rijkenberg S, Stilma W, Endeman H, Bosman RJ, Oudemans-van Straaten HM. Pain measurement in mechanically ventilated critically ill patients: Behavioral Pain Scale versus Critical-Care Pain Observation Tool. J Crit Care. 2015;30(1):167–172. doi:10.1016/j.jcrc.2014.09.007. Google Scholar
[6]
6. Wojnar-Gruszka K, Sega A, Płaszewska-Żywko L, Wojtan S, Potocka M, Kózka M. Pain assessment with the BPS and CCPOT behavioral pain scales in mechanically ventilated patients requiring analgesia and sedation. Int J Environ Res Public Health. 2022;19(17):10894. doi:10.3390/ijerph191710894. Google Scholar
[7]
7. Ayasrah SM. Pain among non-verbal critically ill mechanically ventilated patients: prevalence, correlates and predictors. J Crit Care. 2019;49:14–20. doi:10.1016/j.jcrc.2018.10.002. Google Scholar