Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 10/09/2026

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI MẠN TÍNH QUÁ PHÁT BẰNG PHẪU THUẬT CHỈNH HÌNH CUỐN MŨI DƯỚI CÓ BẢO TỒN NIÊM MẠC TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG, BỆNH VIỆN 19-8 BỘ CÔNG AN

Bình Mai Sỹ
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6399
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị viêm mũi mạn tính quá phát bằng phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn mũi dưới có bảo tồn niêm mạc tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công an.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 35 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 05/2022 đến tháng 05/2026. Đánh giá triệu chứng, phân độ quá phát cuốn mũi dưới qua nội soi, thời gian phẫu thuật, biến chứng và mức độ nghẹt mũi theo VAS trước mổ, sau 4 tuần và sau 8 tuần. Có đủ dữ liệu của 35/35 bệnh nhân tại ba mốc phân tích.

Kết quả: Tuổi trung bình 29,27 ± 6,15 tuổi; nam 24/35. Tắc nghẹt mũi gặp ở 31/35 bệnh nhân (88,6%); quá phát cuốn mũi độ 3 chiếm 25/35 (71,4%). Thời gian phẫu thuật trung bình 15,45 ± 4,21 phút. Kết quả chung ở mốc 8 tuần: tốt 33/35 (94,3%), trung bình 2/35 (5,7%). Có 2/35 trường hợp chảy máu nhẹ (5,7%), 1/35 phù nề (2,9%) và 1/35 tạo vảy mũi (2,9%); không ghi nhận dính mũi hoặc khô mũi. Sau 8 tuần, 33/35 bệnh nhân (94,3%) không còn nghẹt mũi và 2/35 (5,7%) còn nghẹt nhẹ.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn mũi dưới có bảo tồn niêm mạc cho kết quả cải thiện triệu chứng tốt trong theo dõi 8 tuần, thời gian mổ ngắn và ít biến chứng sớm. Cần theo dõi dài hơn để đánh giá tái phát.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Huỳnh Thị Mỹ Hiền (2018), "Kết quả bước đầu điều trị quá phát cuốn mũi dưới ở trẻ em bằng coblation", Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh. 22(4), tr. 63-67. Google Scholar
[2]
2. Quản Thành Nam (2024), "Kết quả phẫu thuật chỉnh hình cuốn dưới điều trị triệu chứng ngạt mũi ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có quá phát cuốn mũi dưới", Y học cộng đồng. 65(2), tr. 87-94. Google Scholar
[3]
3. Bộ y tế (2015), "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về tai mũi họng". Google Scholar
[4]
4. Nguyễn Văn Trường (2025), "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn dưới bằng phương pháp tạo hình vạt trong điều trị viêm quá phát cuốn mũi dưới", Tạp chí Y học Việt Nam. 1(2), tr. 379-283. Google Scholar
[5]
5. Nguyễn Anh Tuấn (2024), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và khí áp mũi của bệnh nhân vẹo tháp mũi sau chấn thương", TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC QUÂN SỰ. 8, tr. 173-181. Google Scholar
[6]
6. K. S. Avdeeva, W. J. Fokkens và S. Reitsma (2021), "Towards a new epidemiological definition of chronic rhinitis: prevalence of nasal complaints in the general population", Rhinology. 59(3), tr. 258-266. Google Scholar
[7]
7. N. Nguyen và các cộng sự. (2024), "A comparison of symptoms and quality of life between medial flap and coblation turbinator of inferior turbinate reduction in endoscopic septoturbinoplasty: an analysis of 108 cases", Ann Med Surg (Lond). 86(5), tr. 2486-2493. Google Scholar
[8]
8. G. B. Patel và các cộng sự. (2020), "Current and Future Treatments of Rhinitis and Sinusitis", J Allergy Clin Immunol Pract. 8(5), tr. 1522-1531. Google Scholar
[9]
9. M. G. Stewart và các cộng sự. (2004), "Development and validation of the Nasal Obstruction Symptom Evaluation (NOSE) scale", Otolaryngol Head Neck Surg. 130(2), tr. 157-63. Google Scholar
[10]
10. A. Tiotiu và các cộng sự. (2021), "Management of adult asthma and chronic rhinitis as one airway disease", Expert Rev Respir Med. 15(9), tr. 1135-1147. Google Scholar
[11]
11. Kryukov Ivanovich, Galina Bondareva và Nguyen Thao (2020), "Allergic rhinitis complicated by hypertrophy of the mucous membrane of nasal turbinates in patients of Northern Vietnam", Biomedical Research and Therapy. 7, tr. 3813-3818. Google Scholar