Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 10/09/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ ỐNG MẬT CHỦ KẾT HỢP NỘI SOI ĐƯỜNG MẬT ỐNG MỀM TRONG MỔ ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

Hải Đỗ Sơn, Liên Nguyễn Thị Diệu, Nam Nguyễn Quang, Sơn Lê Thanh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6398
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi mở ống mật chủ (OMC) kết hợp nội soi đường mật (NSĐM) ống mềm trong mổ điều trị sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Quân y 103. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, không nhóm chứng trên 152 bệnh nhân (BN) sỏi đường mật chính được phẫu thuật nội soi mở OMC kết hợp NSĐM ống mềm trong mổ tại Khoa Gan, mật, tụy – Bộ môn Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 5/2022 - 12/2025. Kết quả: Độ tuổi trung bình của BN là 59,57 ± 12,31; tỷ lệ nữ/nam = 1,38/1; Trong đó 47,4% số BN có tiền sử sỏi mật. Sỏi nhiều viên chiếm đa số (80,3%) và có đồng thời ở cả đường mật trong và ngoài gan với hình thái đa dạng. Các phương pháp lấy sỏi: Dùng Mirizzi, rọ; tán sỏi bằng điện thủy lực, laser. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 86,2%, sót sỏi là 13,8%. Tỷ lệ tai biến trong mổ là 5,9%, biến chứng sau mổ là 9,9%. Phân loại kết quả sau phẫu thuật: Kết quả tốt chiếm 86,2%, không có BN tử vong hoặc biến chứng nặng phải mổ lại. Kết luận: Phẫu thuật nội soi mở OMC kết hợp NSĐM ống mềm trong mổ bước đầu là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi đường mật chính. Phương pháp này cho tỷ lệ sạch sỏi cao, tỷ lệ tai biến và biến chứng thấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Võ Đại Dũng, Nguyễn Trung Hiếu, Trịnh Du Dương (2021). Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị sỏi trong gan tại Bệnh viện Trưng Vương. Y Học TP. Hồ Chí Minh; 25(1): 155-161. Google Scholar
[2]
2. La Văn Phú, Phạm Văn Linh, Võ Huỳnh Trang (2022). Kết quả điều trị sỏi đường mật chính bằng PTNS kết hợp NSĐM trong mổ. Tạp chí y dược học Cần Thơ; 45: 206-213. Google Scholar
[3]
3. Angsuwatcharakon, P., Kulpatcharapong, S., Moon, J. H., Ramchandani, M., Lau, J., Isayama, H., & Rerknimitr, R. (2022). Consensus guidelines on the role of Choledochoscopy to diagnose indeterminate biliary stricture. International Hepato-pancreato-billiary-association journal; 24(1), 17-29. Google Scholar
[4]
4. Phạm Văn Cường (2012). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị phẫu thuật sỏi trong gan tại Bệnh viện Việt Đức. Y học thực hành; 813(3): 50-54. Google Scholar
[5]
5. Chen C. H., Huang M. H., Yang J. C., et al (2015). Reappraisal of percutaneous transhepatic cholangioscopic lithotomy for primary hepatolithiasis. Surg Endosc; 19: 505-509. Google Scholar
[6]
6. Loi Van Le, Quang Van Vu, Thanh Van Le. et al (2024). Outcomes of laparoscopic laparoscopic choledochotomy usingCholedochoscopy via percutaneous-choledochal tube for the treatment of hepatolithiasis and choledocholithiasis: A preliminary Vietnamese study. Ann Hepatobiliary Pancreat Surg; 28:42-47 Google Scholar
[7]
7. Lê Nguyên Khôi, Đoàn Văn Trân (2010). Hiệu quả của phẫu thuật ít xâm hại trong điều trị sỏi đường mật chính. Y học TP. Hồ Chí Minh; 14(2): 1-8. Google Scholar
[8]
8. Buxbaum J., Sahakian A., Ko C., et al (2018). Randomized trial of Choledochoscopy-guided laser lithotripsy versus conventional therapy for large bile duct stones. Gastrointestinal Endoscopy; 87(4): 1050-1060. Google Scholar
[9]
9. Shojaiefard A., Khorgami Z., Ghafouri A., et al (2014). Outcome of Common Bile Duct Exploration without Intraoperative Cholangiography: a Case Series and Review of Literature. Acad J Surg; 1(2): 60-65. Google Scholar
[10]
10. Lê Quan Anh Tuấn (2021). Điều trị sỏi đường mật trong gan qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm. Luận án tiến sĩ y học. Đại học y dược TP Hồ Chí Minh. Google Scholar