Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 25/08/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG SONDE FOELY BÓNG ĐÔI CẢI TIẾN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

Trịnh Hùng Dũng1,2, Nguyễn Thị Phương Thảo1,2, Đào Nguyên Hùng1,2
1 Military Hospital 103
2 Bệnh viện Quân y 103
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6386
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng liên quan đến chỉ định khởi phát chuyển dạ và đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley bóng đôi cải tiến tại Bệnh viện Quân y 103.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 68 bệnh nhân được khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley bóng đôi cải tiến tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2023 đến tháng 3/2026.

Kết quả: Tuổi trung bình của sản phụ là 28,1 ± 5,7; BMI trung bình 26,6 ± 3,1 kg/m2; tuổi thai trung bình 39,2 ± 0,8 tuần. Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công đạt 92,6%, chỉ số Bishop tăng trung bình 3,7 ± 1 điểm sau đặt bóng (p < 0,001). Tỷ lệ sinh đường âm đạo chung là 79,4%, trong đó nhóm khởi phát thành công đạt 84,1%. Biến chứng thấp, gồm nhiễm trùng 4,4%, cơn co tử cung cường tính 1,5%, không ghi nhận ối vỡ non hay suy thai trong khi đặt bóng.

Kết luận: Sonde Foley bóng đôi cải tiến có hiệu quả cao trong làm chín muồi cổ tử cung và hỗ trợ sinh đường âm đạo, với tỷ lệ thành công 92,6% và mức độ an toàn tốt. Phương pháp này phù hợp triển khai tại các cơ sở y tế tuyến cơ sở nhờ chi phí thấp, dễ thực hiện và ít biến chứng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Grobman W.A, Rice M.M, Reddy U.M et al. Labor induction versus expectant management in low-risk nulliparous women. New England Journal of Medicine, 2018, 379 (6): 513-523. doi: 10.1056/nejmoa1800566 Google Scholar
[2]
Nguyễn Thị Anh Phương, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. So sánh hiệu quả khởi phát chuyển dạ của thông Foley bóng đôi cải tiến và bóng đơn đặt kênh cổ tử cung ở thai trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2016, 20 (1): 316-321. Google Scholar
[3]
Atad J, Bornstein J, Calderon I, Petrikovsky B.M, Sorokin Y, Abramovici H. Nonpharmaceutical ripening of the unfavorable cervix and induction of labor by a novel double balloon device. Obstetrics & Gynecology, 1991, 77 (1): 146-151. Google Scholar
[4]
Phạm Thị Hậu, Hồ Sỹ Hùng. Kết quả gây chuyển dạ bằng phương pháp đặt sonde Foley cải tiến các trường hợp thai quá ngày dự kiến sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (17): 316-321. doi: 10.52163/yhc.v66iCD17.3661 Google Scholar
[5]
Hồ Đăng Chung, Trần Xuân Cảnh, Trần Quang Hanh. So sánh kết quả khởi phát chuyển dạ bằng Propess và Foley bóng đôi cải tiến ở thai phụ ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2025. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 557 (2): 252-255. doi: 10.51298/vmj.v557i2.16721 Google Scholar
[6]
Peel M.D, Croll D.M.R, Kessler J et al. Double vs single balloon catheter for induction of labor: systematic review and individual participant data meta analysis. Acta Obstetricia et Gynecologica Scandinavica, 2023, 102 (11): 1440-1449. doi: 10.1111/aogs.14626 Google Scholar
[7]
Tống Đức Tiến, Lê Thị Thanh Tâm, Lê Thị Hà Vy và cộng sự. Nhận xét kết quả khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley hai bóng và một số yếu tố liên quan ở sản phụ tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2024. Tạp chí Y Dược Đại học Y khoa Vinh, 2025, 2 (số đặc biệt): 35-40. Google Scholar
[8]
Nguyễn Hữu Thường, Quan Kim Phụng, Nguyễn Thị Thư, Lâm Đức Tân. Đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ ở thai quá ngày dự sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang năm 2020-2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2021 (40): 82-89. Google Scholar
[9]
Đặng Thùy Trang, Phạm Huy Hiền Hào. Khởi phát chuyển dạ bằng đặt bóng đôi sonde Foley cải tiến kết hợp với Oxytocin ở thai phụ cổ tử cung không thuận lợi tại Bệnh viện Thanh Nhàn. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 554 (2): 296-301. doi: 10.51298/vmj.v554i2.15749 Google Scholar
[10]
Nguyễn Văn Thái, Trịnh Hùng Dũng, Nguyễn Thanh Hà, Trần Thanh Hương. Đánh giá hiệu quả khởi phát chuyển dạ của sonde Foley 2 bóng cải tiến trên thai quá ngày sinh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2021, 16 (7): 113-118. Google Scholar