Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 26/08/2026

NGHIÊN CỨU TỈ LỆ, ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT CỤC THAI KỲ Ở THAI PHỤ THIỂU ỐI TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI 2 NĂM 2025

Lâm Đức Tâm1,2, Sơn Thị Lam Thùy1,2, Lê Nguyễn Trọng Nhân3,4
1 1. Can Tho University of Medicine and Pharmacy
2 1. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3 Vinmec Can Tho General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Vinmec Cần Thơ
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6379
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bất thường về nước ối, bao gồm cả đa ối và thiểu ối, đều có thể làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong đối với mẹ và thai nhi. Trong đó, thiểu ối là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi và góp phần làm gia tăng khả năng đẻ khó hoặc cần phải mổ lấy thai. Thiểu ối được định nghĩa là tình trạng giảm thể tích nước ối so với tuổi thai.

Mục tiêu nghiên cứu:

 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca. Cụ thể là 77 thai phụ thiểu ối trên 650 sản phụ có tuổi thai lớn 28 tuần.

Kết quả: Tỉ lệ thiếu ối trong nghiên cứu là 11,85%. Tuổi mẹ trung bình 29,25 ± 5 tuổi với 88,31% phụ nữ tuổi 20-<35 tuổi; mang thai lần đầu (62,34%); tăng cân bình thường chiếm 74,03% ở nhóm 8-12kg; ngôi chỏm chiếm ưu thế 92,21%. Bề cao tử cung 28,45 ± 2,6cm. Vòng bụng 92,6 ± 6,0cm. Tim thai trung bình 141 ± 5,13 nhịp/phút. Ngôi đầu chiếm 95%, chỉ số ối trung bình 3,76 ± 1,24cm. Đường kính lưỡng đỉnh thai nhi là 88,8 ± 5,2mm. Chiều dài xương đùi là 69,3 ± 3,9 mm. Không ghi nhận trường hợp dị tật thai nhi hay nhiễm khuẩn bào thai. Bất thường dây rốn được ghi nhận ở 2,6% trường hợp. Thiểu ối đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất với 94,8%. Mổ lấy thai là phương pháp sanh thường gặp của thiểu ối (83,12%). Sau mổ nước ối bình thường chiếm 92,21% và cân nặng trẻ sơ sinh trung bình là 3017 ± 488,69gr; tình trạng bé lúc mang sinh có chỉ số Apgar tốt là 98,7%.

Kết luận: Các trường hợp thiểu ối đều có triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong giới hạn bình thường và kết quả điều trị chủ yếu là phẫu thuật mổ lấy thai. Nguyên nhân chủ yếu là thiểu ối đơn thuần.

 

 

Tài liệu tham khảo
[1]
Cấn Bá Quát, Hoàng Thị Ngọc Trâm, Trương Văn Vũ, Nguyễn Thị Mơ, Chu Tiểu Yến (2023), "Nghiên cứu xử trí thiểu ối ở tuổi thai đủ tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", Tạp chí Y học Việt Nam, 527 (1B). https://doi.org/10.51298/vmj.v527i1B.5772 Google Scholar
[2]
Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (2020), "Bài giảng Sản khoa", Nhà xuất bản y học, (Chỉ số ối. Trắc đồ sinh vật lý. Trắc đồ sinh vật lý biến đổi), Tr.162. Google Scholar
[3]
Đỗ Tuấn Đạt, Thành Xuân Anh, Phan Thị Huyền Thương, Lương Hoàng Thành, Nguyễn Xuân Mỹ (2026), "Mức độ thiểu ối: các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2024", Tạp chí Y học Cộng đồng, tr.67 (1). https://doi.org/10.52163/yhc.v67i1.4157 Google Scholar
[4]
Ninh Văn Minh, Hoàng Tiến Nam, Trần Thị Len (2013), "Thiểu ối ở thai trên 28 tuần, các yếu tố liên quan và phương pháp xử trí tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình", Tạp chí Y học thực hành, 874 (6), Tr. 90-1. Google Scholar
[5]
Lâm Đức Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy (2014), "Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối nhập viện tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ", Tạp chí phụ sản, 12 (3), Tr. 74-78. DOI: 10.46755/vjog.2014.3.979 Google Scholar
[6]
Taylor Bynarowicz, Suzanne Jenkins, Anthony Shanks (2025), "Oligohydramnios", StatPearls. Google Scholar
[7]
F. G. Cunningham, K. J. Leveno, S. L. Bloom, J. S. Dashe, B. L. Hoffman, B. M. Casey&C. Y. Spong (2018), Williams Obstetrics 26th edition, (Physiology of labor), McGraw-Hill Education New York, pp.400-440. Google Scholar
[8]
Switzerland Geneva&World Health Organization (2011), "Haemoglobin concentrations for the diagnosis of anaemia and assessment of severity", Vitamin mineral nutrition information system. Document Reference. Google Scholar
[9]
Matiyas Asrat Shiferaw, Ananya Solomon, Sintayehu Getachew&Wondimu Gudu (2024), "Maternal and perinatal outcomes of oligohydramnios in late term and post term pregnancies at public hospitals in Ethiopia: a cross-sectional study", BMC Women's Health, 24 (1), pp.113. DOI: 10.1186/s12905-024-02916-6 Google Scholar
[10]
Ann L Yaktine&Kathleen M Rasmussen (2010), "Weight gain during pregnancy: reexamining the guidelines". DOI: 10.17226/12584 Google Scholar