Đặt vấn đề: Bất thường về nước ối, bao gồm cả đa ối và thiểu ối, đều có thể làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong đối với mẹ và thai nhi. Trong đó, thiểu ối là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi và góp phần làm gia tăng khả năng đẻ khó hoặc cần phải mổ lấy thai. Thiểu ối được định nghĩa là tình trạng giảm thể tích nước ối so với tuổi thai.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca. Cụ thể là 77 thai phụ thiểu ối trên 650 sản phụ có tuổi thai lớn 28 tuần.
Kết quả: Tỉ lệ thiếu ối trong nghiên cứu là 11,85%. Tuổi mẹ trung bình 29,25 ± 5 tuổi với 88,31% phụ nữ tuổi 20-<35 tuổi; mang thai lần đầu (62,34%); tăng cân bình thường chiếm 74,03% ở nhóm 8-12kg; ngôi chỏm chiếm ưu thế 92,21%. Bề cao tử cung 28,45 ± 2,6cm. Vòng bụng 92,6 ± 6,0cm. Tim thai trung bình 141 ± 5,13 nhịp/phút. Ngôi đầu chiếm 95%, chỉ số ối trung bình 3,76 ± 1,24cm. Đường kính lưỡng đỉnh thai nhi là 88,8 ± 5,2mm. Chiều dài xương đùi là 69,3 ± 3,9 mm. Không ghi nhận trường hợp dị tật thai nhi hay nhiễm khuẩn bào thai. Bất thường dây rốn được ghi nhận ở 2,6% trường hợp. Thiểu ối đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất với 94,8%. Mổ lấy thai là phương pháp sanh thường gặp của thiểu ối (83,12%). Sau mổ nước ối bình thường chiếm 92,21% và cân nặng trẻ sơ sinh trung bình là 3017 ± 488,69gr; tình trạng bé lúc mang sinh có chỉ số Apgar tốt là 98,7%.
Kết luận: Các trường hợp thiểu ối đều có triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong giới hạn bình thường và kết quả điều trị chủ yếu là phẫu thuật mổ lấy thai. Nguyên nhân chủ yếu là thiểu ối đơn thuần.