Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 26/08/2026

ĐẶC ĐIỂM TỬ VONG Ở TRẺ SƠ SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2021–2025

Huỳnh Ngọc Linh1,2, Nguyễn Việt Trí3,4, Nguyễn Thế Tần3,4, Phan Thị Ngọc Diễm1,2
1 Ca Mau Medical College
2 Trường Cao đẳng Y tế Cà Mau
3 Ca Mau Obstetrics and Pediatrics Hospital
4 Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6378
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tử vong ở trẻ sơ sinh và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau giai đoạn 2021–2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 14.453 trẻ sơ sinh điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2025. Tình trạng tử vong tại bệnh viện và các yếu tố liên quan được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Phân tích mối liên quan bằng hồi quy logistic đa biến.

Kết quả: Tỷ lệ tử vong trong nhóm trẻ sơ sinh điều trị tại bệnh viện là 2,01%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với tử vong gồm: suy hô hấp (ORHC = 5,82; 95%CI: 4,42–7,66), dị tật bẩm sinh (ORHC = 4,28; 95%CI: 2,68–6,83), sinh non (ORHC = 4,12; 95%CI: 3,18–5,34), nhiễm trùng sơ sinh (ORHC = 3,68; 95%CI: 2,82–4,80) và tuổi sơ sinh 0–7 ngày (ORHC = 1,92; 95%CI: 1,38–2,67), với p < 0,05. Giới tính nam không còn ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh đa biến.

Kết luận: Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau là 2,01%. Suy hô hấp, dị tật bẩm sinh, sinh non, nhiễm trùng sơ sinh và tuổi sơ sinh 0–7 ngày là các yếu tố liên quan quan trọng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lawn JE, Cousens S, Zupan J; Lancet Neonatal Survival Steering Team. 4 million neonatal deaths: when? Where? Why? Lancet. 2005;365(9462):891-900. doi:10.1016/S0140-6736(05)71048-5. Google Scholar
[2]
GBD 2019 Under-5 Mortality Collaborators. Global, regional, and national progress towards Sustainable Development Goal 3.2 for neonatal and child health: all-cause and cause-specific mortality findings from the Global Burden of Disease Study 2019. Lancet. 2021;398(10303):870-905. doi:10.1016/S0140-6736(21)01207-1. Google Scholar
[3]
Vũ Thị Vân Yến, Nguyễn Ngọc Lợi. Tình hình bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012. Tạp chí Phụ Sản. 2013;11(2):79-82. doi:10.46755/vjog.2013.2.389 Google Scholar
[4]
Nguyễn Ngọc Rạng, Trương Cẩm Trinh. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ tử vong sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ. Tạp chí Nhi khoa. 2019;12(2):20-25. Google Scholar
[5]
Phạm Hải Hậu, Nguyễn Bích Hoàng, Trần Tiến Thịnh, Đỗ Thái Sơn, Đỗ Thu Hằng. Đặc điểm và nguyên nhân tử vong ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2020-2022. TNU Journal of Science and Technology. 2023;228(13):451-458. DOI: 10.34238/tnu-jst.8613 Google Scholar
[6]
Phạm Minh Pha, Dương Phúc Lam. Mô hình bệnh tật và tử vong cấp cứu sơ sinh tại các bệnh viện trong tỉnh Cà Mau năm 2017. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2018;(16):1-8. Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Ánh Ngọc, Nguyễn Thị Kiều Nhi. Nghiên cứu mô hình bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh giai đoạn sơ sinh sớm tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2023-2024. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024;(77):480-486. doi:10.58490/ctump.2024i77.2918. Google Scholar
[8]
Thái Bằng Giang, Phạm Văn Duyệt, Ngô Thị Minh Loan, Hoàng Thị Hằng. Mô hình bệnh tật và tử vong tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Hà Nội giai đoạn 2024-2025. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2026;199(2):696-702. Google Scholar
[9]
Phạm Văn Hưng, Đỗ Hoàng Hải, Nguyễn Thành Nam, Phạm Văn Đếm. Nghiên cứu tình hình tử vong sơ sinh tại Trung tâm Nhi khoa - Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2023;64(4):86-94. doi:10.52163/yhc.v64i4.734. Google Scholar