Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 25/08/2026

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ HÀNH VI NGUY CƠ CỦA NGƯỜI BỆNH GIANG MAI TẠI PHÒNG KHÁM NHIỄM TRÙNG LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC, BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG, NĂM 2025-2026

Trần Minh An1,2, Phạm Thị Lan1,2,3,4
1 Department of Dermatology, Hanoi Medical University
2 Bộ môn Da liễu, Trường Đại học Y Hà Nội
3 National Hospital of Dermatology and Venereology
4 Bệnh viện Da Liễu Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6377
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và hành vi nguy cơ ở người bệnh giang mai được xác định lần đầu tại phòng khám nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, Bệnh viện Da Liễu Trung ương từ tháng 10/2025 đến tháng 3/2026.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 471 người bệnh được xác định mắc giang mai và có chỉ định điều trị tại phòng khám STI, Bệnh viện Da Liễu Trung ương.

Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 29,8 ± 11,0 tuổi. Nhóm 25-34 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (39,7%), kế tiếp là nhóm 18-24 tuổi (30,5%). Nam giới chiếm 59,4%. Nghề nghiệp thường gặp nhất là công nhân (26,1%), tiếp theo là nhóm không muốn tiết lộ nghề nghiệp (16,6%) và nhân viên văn phòng (14,9%). Quan hệ tình dục không dùng bao cao su được ghi nhận ở 96,2% trường hợp. Thời gian trung vị từ quan hệ tình dục không an toàn đến khi khám là 30,0 (7,0-60,0) ngày; 66,7% trường hợp đến khám trong vòng 30 ngày sau phơi nhiễm. Trong 149 trường hợp có ghi nhận thời gian triệu chứng, trung vị thời gian có triệu chứng trước khi khám là 17,5 (7,0-30,0) ngày. Giang mai sớm chiếm 34,7%, trong khi nhóm không xác định rõ thời gian chiếm 62,8%. Tổn thương da-niêm mạc và săng giang mai lần lượt gặp ở 21% và 11,7%.

Kết luận: Người bệnh chủ yếu thuộc nhóm người trẻ, quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su được ghi nhận với tỷ lệ cao. Tỷ lệ không xác định rõ thời gian mắc bệnh còn lớn, cho thấy cần chuẩn hóa khai thác thời điểm phơi nhiễm, thời điểm xuất hiện triệu chứng và tiền sử điều trị. Quản lý giang mai nên kết hợp điều trị, tư vấn giảm nguy cơ, thông báo bạn tình và xét nghiệm HIV cùng các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục khác.

Tài liệu tham khảo
[1]
Rosset F, Celoria V, Delmonte S et al. The epidemiology of syphilis worldwide in the last decade. J Clin Med, 2025, 14 (15): 5308. doi: 10.3390/jcm14155308 Google Scholar
[2]
Trần Cẩm Vân, Hoàng Thị Ái Liên, Phạm Thị Minh Phương. Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh giang mai tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 503 (1): 114-117. doi: 10.51298/vmj.v503i1.707 Google Scholar
[3]
Nguyen H.T.T, Nguyen L.T, Hoang H.T.T et al. Increase in human immunodeficiency virus and syphilis prevalence and incidence among men who have sex with men, Vietnam 2015-2020. Int J STD AIDS, 2024, 35 (3): 197-205. doi: 10.1177/09564624231214583 Google Scholar
[4]
Zheng Y, Ye K, Ying M et al. Syphilis epidemic among men who have sex with men: a global systematic review and meta-analysis of prevalence, incidence, and associated factors. J Glob Health, 2024, 14: 04004. doi: 10.7189/jogh.14.04004 Google Scholar
[5]
Wang J, Zhu M, Smith R.D. Prevalence, incidence and risk factors of syphilis among men who have sex with men in China from 2013 to 2025: a systematic review and meta-analysis. BMC Infectious Diseases, 2025, 25 (1): 1821. doi: 10.1186/s12879-025-12176-8. Google Scholar
[6]
Nguyễn Duy Phúc và cộng sự. Tỷ lệ đồng nhiễm HIV - giang mai và một số yếu tố liên quan ở nam quan hệ tình dục đồng giới tại đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015-2022. Tạp chí Y học dự phòng, 2024, 34 (7): 107-116. doi: 10.51403/0868-2836/2024/2017 Google Scholar
[7]
Chen J.S, Levintow S.N, Tran H.V et al. HIV and STI prevalence and testing history among men who have sex with men in Hanoi, Vietnam. Int J STD AIDS, 2022, 33 (2): 193-201. doi: 10.1177/09564624211060185 Google Scholar
[8]
Cantisani C, Rega F, Ambrosio L et al. Syphilis, the great imitator - clinical and dermoscopic features of a rare presentation of secondary syphilis. Int J Environ Res Public Health, 2023, 20 (2): 1339. doi: 10.3390/ijerph20021339 Google Scholar