Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 28/08/2026

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGẮN HẠN CHO BÁC SĨ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG NĂM 2025

Lê Phú Sơn1,2,3,4, Lê Hoàng Hạnh5,6, Trần Thanh Hải7,8
1 Master’s student, Tra Vinh University
2 University Medical Center Ho Chi Minh City; 215 Hong Bang, Cho Lon Ward, Ho Chi Minh City
3 Học viên Cao học Đại học Trà Vinh
4 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; 215 Hồng Bàng, Phường Chợ Lớn, TP Hồ Chí Minh
5 Tien Giang General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang
7 Tien Giang Medical College
8 Trường Cao Đẳng Y tế Tiền Giang
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6336
10 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng công tác đào tạo ngắn hạn cho bác sĩ và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2025.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích trên 315 bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2025. Số liệu thu thập bằng bảng câu hỏi tự điền và phân tích bằng Stata 18.

Kết quả: Tỷ lệ hài lòng chung của bác sĩ về đào tạo ngắn hạn đạt 84,1% (điểm trung bình 4,2 ± 0,45). Các nội dung được đánh giá cao nhất là thông báo lịch học và ban giảng huấn (89,0%), trong khi thời gian và thời lượng đào tạo thấp hơn (79,0%). Mức độ hài lòng cao hơn ở nhóm bác sĩ có ≥ 3 năm kinh nghiệm (p = 0,008) và trình độ sau đại học (p < 0,001). Nội dung đào tạo phù hợp (OR = 4,11) và sự tự tin sau đào tạo (OR = 11,03; p < 0,001) có liên quan chặt chẽ với sự hài lòng.

Kết luận: Mức độ hài lòng của bác sĩ về đào tạo ngắn hạn ở mức cao, tuy nhiên cần cải thiện thời gian đào tạo. Tính phù hợp của nội dung và sự tự tin sau đào tạo là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Google Scholar
[2]
Bonawitz, R., Bird, L., Le, N. B., Nguyen, V. H., Halim, N., Williams, A. L., Sabin, L., & Gill, C. J. (2019). Implementing the mobile continuing medical education (mCME) project in Vietnam: making it work and sharing lessons learned. mHealth, 5, 7. https://doi.org/10.21037/mhealth.2019.02.01. Google Scholar
[3]
van der Velden, T., Van, H. N., Quoc, H. N., Van, H. N., & Baron, R. B. (2010). Continuing medical education in Vietnam: new legislation and new roles for medical schools. The Journal of continuing education in the health professions, 30(2), 144–148. https://doi.org/10.1002/chp.20068. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Mai Vy (2024). Cải thiện các hoạt động đào tạo ngắn hạn cho cán bộ y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2024 - 2026, Đề án Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Trà Vinh. Google Scholar
[5]
Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Thủy (2024). Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến đào tạo liên tục cho bác sĩ tại Bệnh viện Phổi Trung ương, năm 2022-2023. Tạp Chí Y học Việt Nam, 537(2), 226-231. https://doi.org/10.51298/vmj.v537i2.9243. Google Scholar
[6]
Trần Thị Lý, Lê Văn Nhân, Nguyễn Phi Hùng và cộng sự (2022). Thực trạng và các yếu tố liên quan đến công tác đào tạo liên tục cho nhân viên y tế: nghiên cứu tổng quan có hệ thống, giai đoạn 2010-2021. Tạp Chí Y học Việt Nam, 518(1), 59-65. https://doi.org/10.51298/vmj.v518i1.3318. Google Scholar
[7]
Vũ Việt Hằng, Nguyễn Thị Bạch Yến, Đinh Thái Sơn và cộng sự (2025). Tác động của đào tạo liên tục tại Trường Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2015-2020: quan điểm của học viên và người sử dụng lao động. Tạp Chí Y học Cộng đồng, 66(1), 144-150. https://doi.org/10.52163/yhc.v66i1.1929. Google Scholar