Mục tiêu: Mô tả thói quen ăn uống, mức độ hoạt động thể lực và phân tích mối liên quan của các yếu tố này với tình trạng thừa cân-béo phì ở học viên Khoa Sức khỏe và Dinh dưỡng, Trường Cao đẳng Công nghệ Y Dược Việt Nam năm 2025.
Phương pháp: Nghiên cứu bệnh-chứng thực hiện trên 303 học viên, chọn mẫu thuận tiện có ghép cặp. Tình trạng thừa cân-béo phì được đánh giá bằng BMI. Nhóm bệnh gồm 101 học viên có BMI ≥ 25 kg/m2 và nhóm chứng gồm 202 học viên có BMI từ 18,5-24,9 kg/m2. Thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, thói quen ăn uống, tần suất tiêu thụ thực phẩm và mức độ hoạt động thể lực được thu thập bằng bộ câu hỏi có cấu trúc. Hoạt động thể lực được đánh giá bằng bảng câu hỏi GPAQ. Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương và hồi quy logistic, với p < 0,05 có ý nghĩa thống kê.
Kết quả: Trong 101 đối tượng thừa cân-béo phì, có 81 trường hợp nữ; nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam ở tất cả các mức độ (77,8%). Các hành vi ăn uống không lành mạnh phổ biến hơn ở nhóm thừa cân-béo phì, gồm ăn đêm ≥ 2 lần/tuần (39,6%), ăn vặt ≥ 4 lần/tuần (54,4%) và bỏ bữa sáng ≥ 3 lần/tuần (32,7%). Tần suất tiêu thụ thức ăn nhanh (OR = 2,14), thức ăn chiên xào (OR = 1,68) và nước ngọt (OR = 3,90) có liên quan đến tình trạng thừa cân-béo phì (p < 0,05). Hoạt động thể lực thấp cũng có mối liên quan đến thừa cân-béo phì (p = 0,003). Phân tích hồi quy logistic cho thấy nước ngọt đóng chai ≥ 3-4 lần/tuần và hoạt động thể lực thấp có mối liên quan độc lập với thừa cân-béo phì.
Kết luận: Một số thói quen ăn uống không lành mạnh và mức độ hoạt động thể lực thấp có liên quan đến nguy cơ thừa cân-béo phì của học viên.