Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 28/08/2026

KHẢO SÁT MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN CHỈ ĐỊNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH CÓ TIÊM THUỐC CẢN QUANG TẠI KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2025.

Trần Ngọc Thịnh1,2, Lê Công Thuấn3,4, Vũ Viết Tương5,6, Nguyễn Tiến Mạnh3,4, Phạm Văn Khiết3,4, Nguyễn Đức Chính3,4, Dương Thị Thu3,4, Nguyễn Viết Quý3,4, Nguyễn Bá Sỹ1,2
1 National Hospital of Endocrinology
2 Bệnh viện Nội tiết Trung ương
3 Vinmec Times City International General Hospital
4 Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times city Hà Nội
5 Vinmec Central Park International General Hospital
6 Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Central Park
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6301
29 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề:  Với sự ra đời của các trung tâm kĩ thuật cao trên thế giới và tại Việt Nam là các hệ thống trang thiết bị máy móc hiện đại. Thuốc cản quang là thuốc được dùng trong chẩn đoán như chụp CT, MRI với mục đích hỗ trợ chẩn đoán chính xác và trực quan. Đặc biệt hiện nay là thuốc cản quang chứa iod được sử dụng phổ biến nhất do là tương đối an toàn so với các loại thuốc cản quang khác.

Mục tiêu: Mô tả chỉ định, đối tượng và kết quả thu được ở người bệnh chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang và khảo sát một số phản ứng sau khi tiêm thuốc cản quang, một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc cản quang trên người bệnh tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích định lượng nhằm mô tả đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, khảo sát các phản ứng khi tiêm thuốc và kết quả thu được ở người bệnh chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang tại khoa chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện Nội tiết Trung ương.

Kết quả: Thuốc Omnipaque 350 mg I/ml (Iohexol) được sử dụng phổ biến nhất (85%), Ultravist 300 mg I/ml (Iopromide) (15%). Liều lượng trung bình sử dụng dao động từ 65–75 ml/lần chụp, đối chiếu công thức James để tính liều dự kiến dựa trên khối lượng cơ thể cho thấy liều thực tế sử dụng tương đương và không vượt quá giới hạn, an toàn hạn chế độc tính trên thận. Phần lớn người bệnh dung nạp tốt thuốc cản quang, chỉ có tỷ lệ nhỏ xuất hiện phản ứng ngoài ý sau tiêm. 68,7% người bệnh không có biểu hiện gì (nóng bừng thoáng qua), biểu hiện nhẹ như cảm giác nóng bừng toàn thân, buồn nôn- nôn hoặc vị kim loại trong miệng 22,1%; và 1% xuất hiện phản ứng mức độ trung bình hoặc nặng như mề đay, ngứa, khó thở hoặc tụt huyết áp nhẹ, nhưng đều được phát hiện và xử trí kịp thời, không ghi nhận biến chứng nặng hoặc tử vong. Những người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc hoặc có bệnh lý nền mạn tính (như đái tháo đường, suy thận, tăng huyết áp) có tỷ lệ gặp phản ứng cao hơn so với nhóm không có yếu tố nguy cơ (p < 0,05). Các yếu tố liên quan như giới tính, trình độ học vấn, khả năng chi trả, và mức độ hiểu biết về kỹ thuật chụp, thời gian nằm viện không ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc cản quang của người bệnh.

Kết luận: Tình trạng sử dụng thuốc cản quang trong các dịch vụ chụp cắt lớp vi tính tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Nội tiết trung ương đều trong giới hạn an toàn, đảm bảo hiệu quả chẩn đoán. Các phản ứng ngoài ý sau tiêm thuốc cản quang tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương chủ yếu ở mức độ nhẹ, tần suất thấp và được kiểm soát tốt theo quy trình và chuẩn quốc tế.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization, Diagnostic Imaging Services, Geneva: World Health Organization, 2016, pages 11-22. Google Scholar
[2]
American College of Radiology, ACR Manual on Contrast Media, Version 10.3. Reston, VA: American College of Radiology; 2017, pages 23-33. Google Scholar
[3]
European Society of Urogenital Radiology, ESUR Guidelines on Contrast Media, Vienna: European Society of Urogenital Radiology; 2018, pages 43-55. Google Scholar
[4]
Toshihiro Katayama, Yamaguchi H, Kozuka T, et al, Adverse reactions to ionic and nonionic contrast media, Radiology, 1990;175(3):621-628. Google Scholar
[5]
Trung tâm DI & ADR Quốc gia Việt Nam, Báo cáo tổng kết hoạt động cảnh giác dược giai đoạn 2006–2017, Hà Nội; 2018, tr 45-60. Google Scholar
[6]
Nguyễn Văn Hiệp và cs, Sử dụng thuốc cản quang trong chụp cắt lớp vi tính tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021, tr 34-56. Google Scholar
[7]
Toshihiro Katayama et al, Adverse reactions to ionic and nonionic contrast media. Radiology. 1990; 175:621-628. Google Scholar
[8]
Kyongtae Bae, Intravenous contrast medium administration and scan timing, Radiology, 2010, pages 45-55. Google Scholar
[9]
Hiroshi Takagi et al, Weight-based dosing of iodinated contrast media in CT, Japanese Journal of Radiology, 2017, pages 55-62. Google Scholar
[10]
Seung Hwan Lee et al, Gender differences in contrast media hypersensitivity, Korean Journal of Radiology, 2021. Google Scholar