ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NÔN BUỒN NÔN CỦA NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ ĐƯỜNG TIÊU HÓA GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH

Phí Thị Nguyệt1, Bùi Thị Thu Thương1, Nguyễn Văn Ngà2, Nguyễn Thị Hảo1, Lê Quang Việt1
1 Bệnh viện K
2 Bệnh viện Bạch Mai

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng nôn, buồn nôn sau phẫu thuật ở người bệnh phẫu thuật điều trị ung thư đường tiêu hóa trong giai đoạn hồi tỉnh tại Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện K.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 người bệnh sau phẫu thuật điều trị ung thư đường tiêu hóa tại Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, phỏng vấn và quan sát trực tiếp bằng bộ công cụ được thiết kế sẵn. Nguy cơ nôn, buồn nôn sau phẫu thuật (PONV) được đánh giá bằng thang điểm Apfel; mức độ PONV được đánh giá theo thang điểm Klockgether-Radle.


Kết quả: Điểm Apfel của người bệnh chủ yếu là 0 điểm (56,4%), trong khi 4,5% có điểm Apfel 4. Có 97,3% người bệnh được sử dụng thuốc dự phòng PONV. Tỷ lệ người bệnh xuất hiện PONV trong giai đoạn theo dõi là 36,4%; trong đó nữ giới chiếm 62,5%. PONV chủ yếu ở mức độ nhẹ (Klockgether-Radle 1–2 điểm) và tập trung trong giai đoạn sớm sau rút nội khí quản; 72,5% trường hợp nôn xảy ra trong 30 phút đầu. Có 11/40 người bệnh xuất hiện PONV cần sử dụng thuốc điều trị giải cứu. Tỷ lệ PONV có xu hướng tăng theo điểm nguy cơ Apfel. Trong phân tích mối liên quan, tuổi dưới 50 và tình trạng còn sonde dạ dày có liên quan với PONV.


Kết luận: Tỷ lệ PONV trong giai đoạn hồi tỉnh sau phẫu thuật là 36,4%, chủ yếu ở mức độ nhẹ và xảy ra trong giai đoạn sớm sau rút nội khí quản. Tỷ lệ PONV cao hơn ở nữ giới. Điểm nguy cơ Apfel cao, tuổi dưới 50 và tình trạng còn sonde dạ dày có liên quan với sự xuất hiện PONV.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Freddie Bray BSc, MSc, PhD, et al (2024) , “Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries”, A Cancer journal for Clinicians volume 74 Issue 3 p. 229-263. irst published: 04 April 2024 https://doi.org/10.3322/caac.21834
2. Hiraki, Masatsugu, et al (2022), "A clinical risk analysis of postoperative nausea and vomiting after colorectal cancer surgery." Journal of Coloproctology 42.03 (2022): 203-209. https://doi.org/10.1055/s-0042-1748837
3. Wesmiller SW, Bender CM et al (2016), “A Prospective Study of Nausea and Vomiting After Breast Cancer Surgery”, J Perianesth Nurs. 2017 Jun;32(3):169-176. doi: 10.1016/j.jopan.2015.12.009. Epub 2016 Sep 1.
PMID: 28527544; PMCID: PMC5453310.
4. Apfel CC, Läärä E, Koivuranta M, Greim CA, Roewer N (1999),“ A simplified risk score for predicting postoperative nausea and vomiting: conclusions from cross-validations between two centers”. Anesthesiology. 1999 Sep;91(3):693-700. Doi: 10.1097/00000542-199909000-00022. PMID: 10485781
5. Gan TJ, Belani KG, Bergese S, Chung F, et al (2020), “Fourth Consensus Guidelines for the Management of Postoperative Nausea and Vomiting”. Anesth Analg. 2020 Aug;131(2):411-448. Doi: 0.1213/ANE.0000000000004833. PMID: 32467512.
6. Jin Z, Gan TJ, Bergese SD (2020), “Prevention and Treatment of Postoperative Nausea and Vomiting (PONV): A Review of Current Recommendations and Emerging Therapies”. Ther Clin Risk Manag. 2020 Dec 31;16:1305-1317. doi: 10.2147/TCRM.S256234. PMID: 33408475; PMCID: PMC7780848.
7. Nguyễn Thị Kim Yến, Mai Xuân Thiên, Trịnh Văn Đồng (2022), “Đánh giá tác dụng dự phòng nôn, buồn nôn và đau của dexamethasone tiêm trước mổ trong phẫu thuật cắt tuyến giáp”. TẠP CHÍ Y DƯỢC LÂM SÀNG 108 Tập 18 - Số 1/2023 Tr 100 - 105 DOI: https://doi.org/10.52389/ydls.v18i1.1620
8. Nguyễn Thị Hồng Nga, Phạm thị Thanh Thủy và cs (2016), “Hiệu quả của ondasetron phối hợp propofol liều thấp trong dự phòng buồn nôn và nôn ở bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi”. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 20 số 2 năm 2016 tr 329 -333
9. Holder-Murray J, Esper SA, Boisen ML, Gealey J, Meister K, Medich DS, Subramaniam K(2019), “Postoperative nausea and vomiting in patients undergoing colorectal surgery within an institutional enhanced recovery after surgery protocol: comparison of two prophylactic antiemetic regimens”. Korean J Anesthesiol. 2019 Aug;72(4):344-350. doi: 10.4097/kja.d.18.00355.
10. Lin C, Li J, Wu Q, Luo T, Zheng Z(2024), “Postoperative Nausea and Vomiting in Female Patients Undergoing Laparoscopic Gastrointestinal Surgery with Double Prophylactic Therapy”. Surg J (N Y). 2024 Jun 3;10(2):e25-e30. doi: 10.1055/s-0044-1787305. PMID: 38835494;
11. Huỳnh Chiến Thắng, Lê Vũ Linh và cs (2020), “Hiệu quả điều trị dự phòng buồn nôn và nôn của Ondasetron phối hợp Dexamethason tại bệnh viện trường Đại học y dược Cần Thơ”. Tạp chí Y dược Cần Thơ số 29/2020, tr 14-20
12. Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Hữu Tú (2014 ), “Các yếu tố liên quan đến tình trạng nôn và buồn nôn của bệnh nhân sau mổ ”. Tạp chí nghiên cứu y học số 2/2014, tr 74-82.
13. Arslan HN, Çelik SŞ (2024), “Nonpharmacological Nursing Interventions in Postoperative Nausea and Vomiting: A Systematic Review”. J Perianesth Nurs. 2024 Feb;39(1):142-154. doi: 10.1016/j.jopan.2023.06.096. Epub 2023 Oct 20. PMID: 37865902.
14. Kerger KH, Mascha E, Steinbrecher B, Frietsch T, et al (2009), “Routine use of nasogastric tubes does not reduce postoperative nausea and vomiting”. Anesth Analg. 2009 Sep;109(3):768-73. doi: 10.1213/ane.0b013e3181aed43b. PMID: 19690245.