Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 28/08/2026

KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ GÃY BONG CHỖ BÁM DÂY CHẰNG CHÉO SAU TẠI MÂM CHÀY BẰNG CÁC KỸ THUẬT CỐ ĐỊNH QUA NỘI SOI Ở BỆNH VIỆN SÀI GÒN ITO PHÚ NHUẬN

Nguyễn Văn Huy1,2, Hồ Sỹ Nam1,2, Nguyễn Minh Dương1,2, Nguyễn Văn Thuật1,2, Phan Văn Ngọc1,2, Nguyễn Thành Chơn1,2, Lê Chí Dũng1,2
1 Saigon ITO Phu Nhuan Hospital
2 Bệnh viện Sài Gòn ITO Phú Nhuận
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6256
17 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả liền xương, các biến chứng và sự phục hồi chức năng khớp gối sau điều trị gãy bong chỗ bám dây chằng chéo sau tại mâm chày bằng các kỹ thuật cố định qua nội soi.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca gồm 27 bệnh nhân gãy bong chỗ bám dây chằng chéo sau phía chày được điều trị bằng các kỹ thuật cố định mảnh gãy qua nội soi trong giai đoạn 8/2019 - 8/2025. Các đặc điểm lâm sàng, phân loại tổn thương, tổn thương phối hợp, phương tiện cố định, kết quả liền xương, biến chứng và điểm chức năng Lysholm, IKDC tại hai mốc cố định 3 tháng và 6 tháng sau mổ được ghi nhận và phân tích.

Kết quả: Nắn chỉnh giải phẫu được ghi nhận ở 24/27 trường hợp (88,9%; KTC 95% chính xác: 70,8% - 97,6%). Liền xương được ghi nhận ở 26/27 bệnh nhân tại 3 tháng (96,3%; KTC 95%: 81,0% - 99,9%) và 27/27 bệnh nhân tại 6 tháng (100%; KTC 95%: 87,2% - 100%). Trong 6 tháng theo dõi, không ghi nhận nhiễm trùng, tổn thương mạch máu - thần kinh khoeo, lỏng/thất bại phương tiện cố định hoặc phẫu thuật lại (0/27; KTC 95% chính xác: 0% - 12,8%). Điểm Lysholm tăng từ 80,78 ± 11,71 tại 3 tháng lên 94,04 ± 8,78 tại 6 tháng (mức tăng trung bình 13,26 điểm; KTC 95%: 10,63 - 15,89); điểm IKDC tăng từ 72,29 ± 12,17 lên 91,09 ± 10,87 (mức tăng 18,79 điểm; KTC 95%: 17,18 - 20,40); p < 0,001.

Kết luận: Trong loạt 27 bệnh nhân, các kỹ thuật cố định qua nội soi cho kết quả bước đầu khả quan: liền xương ở toàn bộ bệnh nhân tại mốc 6 tháng, không ghi nhận biến chứng nào trong danh mục theo dõi định trước và điểm Lysholm, IKDC cải thiện có ý nghĩa từ 3 đến 6 tháng sau mổ. Các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn và thiết kế chặt chẽ cần được thực hiện để đánh giá độ an toàn và hiệu quả dài hạn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Ouyang J, Hui M, Lu J, Jiang C, Guo W. Arthroscopic Management of Posterior Cruciate Ligament Avulsion Fractures Utilizing Anterior Compartment Loop-and-Tack Suspension Fixation. Orthop J Sports Med. 2025;13(12):23259671251386462. doi:10.1177/23259671251386462 Google Scholar
[2]
Zhu Y, Yuan T, Cai D, Tao J, Dong J, Hu B, et al. Adjustable-Loop Cortical Button Fixation Results in Good Clinical Outcomes for Acute Tibial Avulsion Fracture of the Posterior Cruciate Ligament. Arthrosc Sports Med Rehabil. 2023;5(2):pp. e307-e13. doi: 10.1016/j.asmr.2022.11.012 Google Scholar
[3]
Zheng W, Hou W, Zhang Z, Li P, Zhou B, Li H, et al. Results of Arthroscopic Treatment of Acute Posterior Cruciate Ligament Avulsion Fractures With Suspensory Fixation. Arthroscopy. 2021;37(6):pp. 1872-80. doi: 10.1016/j.arthro.2021.01.044 Google Scholar
[4]
Gwinner C, Kopf S, Hoburg A, Haas NP, Jung TM. Arthroscopic Treatment of Acute Tibial Avulsion Fracture of the Posterior Cruciate Ligament Using the TightRope Fixation Device. Arthrosc Tech. 2014;3(3):pp. e377-82. doi: 10.1016/j.eats.2014.02.005 Google Scholar
[5]
Kan H, Nakagawa S, Hino M, Komaki S, Arai Y, Inoue H, et al. Arthroscopic Fixation Technique for Avulsion Fracture of the Posterior Cruciate Ligament From the Tibia. Arthrosc Tech. 2020;9(11):pp. e1819-e24. doi: 10.1016/j.eats.2020.08.006 Google Scholar
[6]
Chen LB, Wang H, Tie K, Mohammed A, Qi YJ. Arthroscopic fixation of an avulsion fracture of the tibia involving the posterior cruciate ligament: a modified technique in a series of 22 cases. Bone Joint J. 2015;97-B(9):pp. 1220-5. doi: 10.1302/0301-620X.97B9.35765 Google Scholar
[7]
Xu Z, Dong Y, Feng YE, Xie P, Gu J, Kang K, et al. A simple arthroscopic technique for treatment of displaced “hinged” type of posterior cruciate ligament avulsion fractures. BMC Musculoskelet Disord. 2022;23(1):pp. 841. doi: 10.1186/s12891-022-05795-8 Google Scholar
[8]
Dhariwal HV, Kannaiyan M, Thirumeni T, Rajagopal N. Outcome Analysis of Arthroscopic Fixation of Posterior Cruciate Ligament Avulsion Fracture Using a Single Tibial Tunnel and Suture Loop with Button Configuration - A Case Series Study. J Orthop Case Rep. 2024;14(4):pp. 170-5. doi: 10.13107/jocr.2024.v14.i04.4400 Google Scholar
[9]
Thonse C, Magar MT, Paul D. Arthroscopic “Crisscross” Fixation Technique for Avulsion Fracture of the Posterior Cruciate Ligament From the Tibia. Arthrosc Tech. 2024;14(3):pp. 103277. doi: 10.1016/j.eats.2024.103277 Google Scholar
[10]
Li X, Ma Q, Zheng Q, Dou Q, Zhou L, Sun L, et al. Modified arthroscopic repair of a posterior cruciate ligament tibial avulsion fracture improves IKDC and Lysholm score compared to open reduction. J Orthop Surg Res. 2024;19(1):pp. 362. doi: 10.1186/s13018-024-04851-4 Google Scholar
[11]
Joshi A, Thaiba A, Paudyal H, Ahmad U. A modified classification of tibial avulsion of the posterior cruciate ligament and its association with meniscal and ligament injuries. Journal of ISAKOS. 2025;13:100921. doi:10.1016/j.jisako.2025.100921. Google Scholar
[12]
Tegner Y, Lysholm J. Rating systems in the evaluation of knee ligament injuries. Clin Orthop Relat Res. 1985;(198):43-9. Google Scholar
[13]
Migliorini F, Maffulli N, Jeyaraman M, Schäfer L, Rath B, Huber T. Minimal clinically important difference (MCID), patient-acceptable symptom state (PASS), and substantial clinical benefit (SCB) following surgical knee ligament reconstruction: a systematic review. Eur J Trauma Emerg Surg. 2025;51(1):32. doi:10.1007/s00068-024-02708-3. Google Scholar