Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 28/08/2026

SO SÁNH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRƯỚC PHẪU THUẬT GIỮA BỆNH NHÂN SAI HÌNH XƯƠNG HẠNG II VÀ HẠNG III: NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG

Lê Tấn Hùng1,2,3,4, Trần Ái Khiêm5,6, Nguyễn Mỹ Huyền1,3
1 Faculty of Odonto-Stomatology, School of Medicine and Pharmacy – Tra Vinh University
2 Department of Plastic and Aesthetic Surgery, School of Medicine and Pharmacy
3 Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Y Dược - Đại học Trà Vinh
4 Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ, Trường Y Dược
5 Faculty of Odonto-Stomatology, Hong Bang International University
6 Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6255
19 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh chất lượng cuộc sống (CLCS) trước phẫu thuật giữa bệnh nhân sai hình xương hạng II và hạng III thông qua bộ câu hỏi OQLQ.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 bệnh nhân (hạng II n = 25, hạng III n = 25). Bộ câu hỏi OQLQ (22 mục, 4 lĩnh vực, tổng điểm 0–88) thu thập tại thời điểm trước phẫu thuật. So sánh bằng independent t-test hoặc Mann-Whitney U test (p < 0,05).

Kết quả: Nhóm hạng III trẻ hơn (20,4 ± 2,2 so với 25,7 ± 7,3 tuổi; p = 0,002) và có tỷ lệ nam cao hơn (64,0% so với 36,0%; p = 0,048). Tổng điểm OQLQ không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (44,53 ± 14,81 so với 40,51 ± 15,24; p = 0,349). Điểm thẩm mỹ khuôn mặt ở nhóm hạng III cao hơn có ý nghĩa (15,64 ± 3,82 so với 12,82 ± 4,15; p = 0,016). Ba lĩnh vực còn lại không khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05).

Kết luận: Sai hình xương hạng II và hạng III có tổng điểm OQLQ trước phẫu thuật không khác biệt có ý nghĩa. Tuy nhiên, nhóm hạng III có điểm thẩm mỹ khuôn mặt cao hơn nhóm hạng II.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lưu Hồng Hạnh, Lê Ngọc Tuyến, Trương Mạnh Nguyên và cs. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hàm xương hàm tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2024-2025. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;555(3). doi:10.51298/vmj.v555i3.16133 Google Scholar
[2]
Ng JH, Lee IC, Liu BCL, Ko EWC. Quality of Life Changes in Taiwanese Patients with Dentofacial Deformities Undergoing Orthognathic Surgery. Taiwanese Journal of Orthodontics. 2022;34(4):Article 3. doi:10.38209/2708-2636.1325 Google Scholar
[3]
Zamboni R, de Moura FRR, Brew MC, et al. Impacts of Orthognathic Surgery on Patient Satisfaction, Overall Quality of Life, and Oral Health-Related Quality of Life: A Systematic Literature Review. International Journal of Dentistry. 2019;2019:2864216. doi:10.1155/2019/2864216 Google Scholar
[4]
Cunningham SJ, Garratt AM, Hunt NP. Development of a condition-specific quality of life measure for patients with dentofacial deformity: II. Validity and responsiveness testing. Community Dentistry and Oral Epidemiology. 2002;30(2):81-90. doi:10.1034/j.1600-0528.2002.300201.x Google Scholar
[5]
Cunningham SJ, Garratt AM, Hunt NP. Development of a condition-specific quality of life measure for patients with dentofacial deformity: I. Reliability of the instrument. Community Dentistry and Oral Epidemiology. 2000;28(3):195-201. doi:10.1034/j.1600-0528.2000.280305.x Google Scholar
[6]
Trần Nguyên Giang, Nguyễn Thị Thu Phương. Một số chỉ số sọ mặt của bệnh nhân có tương quan xương loại II do kém phát triển xương hàm dưới. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;507(2). doi:10.51298/vmj.v507i2.1393 Google Scholar
[7]
Nguyễn Hoàng Minh, Trương Mạnh Dũng, Võ Trương Như Ngọc và cs. Quality of Life and Suitability with Vietnamese Harmonious Face Index in Class III Malocclusion Patients. Open Access Macedonian Journal of Medical Sciences. 2019;7(24):4239-4243. doi:10.3889/oamjms.2019.367 Google Scholar
[8]
Đinh Thị Yến, Phạm Như Hải, Trần Thu Hương và cs. Nhận thức về thẩm mĩ khuôn mặt trên ảnh chuẩn hóa ở sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2024;65(4):169-176. doi:10.52163/yhc.v65i4.1212 Google Scholar
[9]
Trần Văn Thắng, Lê Thị Thu Hải, Đặng Triệu Hùng và cs. Đặc điểm lâm sàng, X-quang sọ nghiêng của bệnh nhân lệch lạc khớp cắn loại III được phẫu thuật chỉnh hình xương tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2020-2023. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;531(1B). doi:10.51298/vmj.v531i1B.7021 Google Scholar