Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

KHẢO SÁT MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỈ SỐ BẠCH CẦU ĐA NHÂN TRUNG TÍNH TRÊN BẠCH CẦU LYMPHO VÀ MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH Ở NHÓM BỆNH NHÂN PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH ỔN ĐỊNH ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG

Lê Cao Phương Duy1,2,3,4, Hồ Huỳnh Uy Tài1,2,3,4, Ngô Phạm Thế Duy2,4, Trần Văn Thi2,4
1 Nguyen Tri Phuong Hospital, Ho Chi Minh City
2 Nguyen Tat Thanh University
3 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.6183
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: xác định (1) đặc điểm lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ổn định(BPTNMT) và (2) mối liên quan giữa tỉ số bạch cầu đa nhân trung tính – bạch cầu lympho (NLR) và tỉ số của bạch cầu lympho – bạch cầu đơn nhân (LMR) với các đặc điểm nặng của BPTNMT.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 bệnh nhân BPTNMT ổn định được quản lý tại Phòng khám Hô hấp, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2024. Các đặc điểm được so sánh riêng giữa các nhóm NLR và LMR; tương quan Pearson được dùng để khảo sát mối liên quan giữa NLR và FEV₁. Các phân tích liên quan mang tính thăm dò và không hiệu chỉnh đa so sánh.

Kết quả: Đa số bệnh nhân có mMRC ≥ 2 (81%), thuộc GOLD 2 (53%) và nhóm B (61%). Trung vị NLR và LMR lần lượt là 2,30 và 2,83. Trong phân tích thăm dò không hiệu chỉnh, NLR ≥ 2,30 liên quan với phân nhóm nguy cơ đợt cấp cao (76% so với 48%; OR = 3,43; KTC 95%: 1,46–8,06; p = 0,007). Với LMR < 2,83, khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê (71,43% so với 52,94%; OR = 2,22; KTC 95%: 0,97–5,09; p = 0,066). Không ghi nhận bằng chứng về mối liên quan giữa NLR và FEV₁ (r = 0,14; p = 0,149).

Kết luận: NLR ≥ 2,30 liên quan với phân nhóm nguy cơ đợt cấp cao trong phân tích thăm dò không hiệu chỉnh, trong khi mối liên quan tương ứng của LMR không đạt ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu chưa chứng minh giá trị tiên lượng hoặc theo dõi đáp ứng điều trị của NLR và LMR.

 

Phương pháp thống kê chưa khớp với kết quả trình bày: phần kết quả chủ yếu là so sánh nhóm và tương quan Pearson, không thấy bảng hồi quy logistic/OR/KTC 95%. Cần bổ sung đầy đủ mô hình hồi quy hoặc sửa phương pháp cho đúng phân tích đã thực hiện.

 

p = 0,149 không có ý nghĩa thống kê, nên không nên dùng kết quả này để hỗ trợ kết luận về giá trị đánh giá mức độ nặng. Ngoài ra tương quan thuận với FEV1 trái với giả thuyết viêm cao đi kèm chức năng phổi kém, cần bàn luận thận trọng.

 

Kết luận quá mạnh so với dữ liệu: hầu hết chỉ số lâm sàng không khác biệt có ý nghĩa, nguy cơ đợt cấp chỉ có xu hướng p≈0,07, và nghiên cứu cắt ngang n=100 không đánh giá tiên lượng/đáp ứng điều trị. Cần hạ mức kết luận.

Tài liệu tham khảo
[1]
Boers E, Barrett M, Su JG, et al. Global Burden of Chronic Obstructive Pulmonary Disease Through 2050. JAMA Netw Open. Dec 1 2023;6(12):e2346598. doi:10.1001/jamanetworkopen.2023.46598 Google Scholar
[2]
Nguyen Viet N, Yunus F, Nguyen Thi Phuong A, et al. The prevalence and patient characteristics of chronic obstructive pulmonary disease in non-smokers in Vietnam and Indonesia: An observational survey. Respirology. May 2015;20(4):602-11. doi:10.1111/resp.12507 Google Scholar
[3]
Fang L, Zhu J, Fu D. Predictive value of neutrophil-lymphocyte ratio for all-cause mortality in patients with chronic obstructive pulmonary disease: a systematic review and meta-analysis. BMC Pulm Med. Apr 29 2025;25(1):206. doi:10.1186/s12890-025-03677-y Google Scholar
[4]
Venkatesan P. GOLD COPD report: 2025 update. Lancet Respir Med. Jan 2025;13(1):e7-e8. doi:10.1016/s2213-2600(24)00413-2 Google Scholar
[5]
Phan Thanh Thuỷ, Vũ Văn Giáp, Lê Thị Tuyết Lan, Nguyễn Viết Nhung, Ngô Quý Châu. Đặc điểm lâm sàng và tỷ lệ đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh tại một số đơn vị quản lý ngoại trú. Tạp chí nghiên cứu Y học trường Đại học Y Hà Nội. 2022;160(12V1(2022)):228-236. doi:10.52852/tcncyh.v160i12V1.1218 Google Scholar
[6]
Wang X, Liang Q, Li Z, Li F. Body Composition and COPD: A New Perspective. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2023;18:79-97. doi:10.2147/copd.S394907 Google Scholar
[7]
Kotlyarov S. The Role of Smoking in the Mechanisms of Development of Chronic Obstructive Pulmonary Disease and Atherosclerosis. Int J Mol Sci. May 13 2023;24(10)doi:10.3390/ijms24108725 Google Scholar
[8]
Hoesterey DT, Dang H, Markovic D, et al. Neutrophil-to-Lymphocyte Ratio (NLR) as a Biomarker in Clinically Stable Chronic Obstructive Pulmonary Disease: SPIROMICS cohort. Ann Am Thorac Soc. Sep 8 2025;doi:10.1513/AnnalsATS.202412-1265OC Google Scholar
[9]
Cai C, Zeng W, Wang H, Ren S. Neutrophil-to-Lymphocyte Ratio (NLR), Platelet-to-Lymphocyte Ratio (PLR) and Monocyte-to-Lymphocyte Ratio (MLR) as Biomarkers in Diagnosis Evaluation of Acute Exacerbation of Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Retrospective, Observational Study. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2024;19:933-943. doi:10.2147/copd.S452444 Google Scholar
[10]
Moaleș EA, Dima-Cozma LC, Adam CA, et al. Correlations Between Inflammatory Biomarkers and COPD Severity in a Real-Life Setting. J Clin Med. Sep 15 2025;14(18)doi:10.3390/jcm14186481 Google Scholar