KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ PHÁC ĐỒ GEMCITABINE ĐƠN CHẤT TRONG UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

Nguyễn Thị Hoài Thương1, Nguyễn Viết Bình1, Nguyễn Thị Nga1, Hồ Duy Tuấn Anh2
1 Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
2 Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sống thêm và tính an toàn của Gemcitabine đơn chất dùng duy trì ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn đã đạt kiểm soát bệnh sau hóa trị chứa Platinum tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.


Đối tượng và phương pháp:  Nghiên cứu mô tả hồi cứu, có theo dõi dọc, thực hiện trên 46 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn được điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2026. Sau khi đạt đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần hoặc bệnh ổn định với hóa trị chứa Platinum, bệnh nhân tiếp tục điều trị bằng Gemcitabine liều 1250 mg/m² vào ngày thứ 1 và ngày thứ 8 của chu kỳ 21 ngày, cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không thể chấp nhận được. Đáp ứng của khối u và các biến cố bất lợi lần lượt được được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 và CTCAE 5.0; PFS và OS được ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,80 ± 13,76; nam giới chiếm 78,3% và mô bệnh học thể không biệt hóa chiếm 93,5%. Tái phát di căn gặp ở 69,6% trường hợp; 87% có di căn đa ổ. Sau hóa trị tấn công, tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 78,3%. Trung vị số chu kỳ Gemcitabine duy trì là 3,5 (3-20). Trung vị PFS đạt 17,45 tháng; tỷ lệ PFS tại 6, 12 và 24 tháng lần lượt là 89,1%, 73,9% và 42,4%. Trung vị OS chưa đạt; tỷ lệ OS tương ứng là 97,8%, 93,5% và 82%. Độc tính độ 3-4 xuất hiện ở 41,3% bệnh nhân, chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính (37%); không ghi nhận độc tính ngoài huyết học độ 3-4.


Kết luận: Gemcitabine đơn chất duy trì cho thấy kết quả sống thêm khả quan và độc tính có thể kiểm soát ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn đã kiểm soát bệnh sau hóa trị chứa Platinum.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bossi P, Chan A.T, Licitra L et al. Nasopharyngeal carcinoma: ESMO-EURACAN clinical practice guidelines for diagnosis, treatment and follow-up. Annals of Oncology, 2021, 32: 452-465.
[2] Hong S, Zhang Y, Yu G et al. Gemcitabine plus Cisplatin versus Fluorouracil plus Cisplatin as first-line therapy for recurrent or metastatic nasopharyngeal carcinoma: final overall survival analysis of GEM20110714 phase III study. J Clin Oncol, 2021, 39: 3273-3282.
[3] Liu G.Y, Li W.Z, Wang D.S et al. Effect of Capecitabine maintenance therapy plus best supportive care vs best supportive care alone on progression-free survival among patients with newly diagnosed metastatic nasopharyngeal carcinoma who had received induction chemotherapy. JAMA Oncol, 2022, 8: 553-561.
[4] Lu Y, Huang H, Yang H et al. Maintenance therapy improves the survival outcomes of patients with metastatic nasopharyngeal carcinoma responding to first-line chemotherapy: a multicentre, randomized controlled clinical study. J Cancer Res Clin Oncol, 2023, 149: 4327-4338.
[5] Mai H.Q, Chen Q.Y, Chen D et al. Toripalimab plus chemotherapy for recurrent or metastatic nasopharyngeal carcinoma: the JUPITER-02 randomized clinical trial. JAMA, 2023, 330: 1961-1970.
[6] Yang Y, Qu S, Li J et al. Camrelizumab versus placebo in combination with Gemcitabine and Cisplatin as first-line treatment for recurrent or metastatic nasopharyngeal carcinoma (CAPTAIN-1st): a multicentre, randomised, double-blind, phase 3 trial. The Lancet Oncology, 2021, 22: 1162-1174.
[7] Zhang L, Zhang Y, Huang P.Y et al. Phase II clinical study of Gemcitabine in the treatment of patients with advanced nasopharyngeal carcinoma after the failure of Platinum-based chemotherapy. Cancer Chemother Pharmacol, 2008, 61: 33-38.
[8] Trương Thu Hiền, Nguyễn Thị Mai Lan và cộng sự. Kết quả điều trị ung thư vòm mũi họng giai đoạn tái phát, di căn với phác đồ Gemcitabine - Cisplatin. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 552 (1): 1-5. doi: 10.51298/vmj.v552i1.14827.