HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU NGOÀI MÀNG CỨNG SAU PHẪU THUẬT LẤY THAI DO BỆNH NHÂN TỰ ĐIỀU KHIỂN BẰNG MÁY PCA TẠI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY NĂM 2025: NHẬN XÉT 30 TRƯỜNG HỢP

Phạm Hòa Hưng1, Phùng Văn Chinh2, Nguyễn Văn Quang2, Phạm Văn Trung2, Đoàn Như Thúy2, Nguyễn Trung Thành3
1 Bệnh viện đa khoa Vinmec Hạ Long
2 Bệnh viện Bãi cháy
3 Bệnh viện đa khoa Vimec Hải phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét hiệu quả giảm đau của gây tê ngoài màng cứng do bệnh nhân tự điều khiển.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt trường hợp cho 30 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật lấy thai, được sử dụng phương pháp giảm đau ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) sau phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Bãi Cháy từ tháng 03/2025 đến tháng 10/2025.


Kết quả: Bệnh nhân chủ yếu dưới 30 tuổi (63,3%). Thể tích tiêm liều khởi đầu trung bình là 5,93 ± 0,83 mL, dao động từ 4 đến 7 mL. Điểm đau trung bình (VAS) giảm dần theo thời gian: cao nhất trong 24 giờ đầu (VAS trung bình 4,8 ± 0,9 ngay sau mổ) và giảm còn 1,5 ± 0,4 sau 72 giờ. Tất cả bệnh nhân đều đạt mức giảm đau thỏa đáng, không có trường hợp nào phải chuyển sang giảm đau phương pháp khác. Về liều lượng và mức tiêu thụ thuốc, tổng liều thuốc tê trung bình trong 72 giờ là 287 ± 15 mg. Các tác dụng phụ ghi nhận nhẹ và thoáng qua, chủ yếu là nôn – buồn nôn (26,7%) và ngứa (16,7%), không cần can thiệp điều trị đặc biệt. Không có biến chứng nghiêm trọng như tụt huyết áp, bí tiểu, ức chế hô hấp hoặc đau đầu sau chọc kim.


Kết luận: PCEA cho thấy khả năng kiểm soát đau tốt trong nhóm 30 sản phụ được theo dõi 72 giờ, với tác dụng phụ nhẹ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Maalouf DB, Liu SS. Clinical applications of epidural analgesia. Acute pain management. Cambridge University Press, New York; 2009:114-143.
2. Sinatra RS, Jahr JS, Watkins-Pitchford JM (2010), The essence of analgesia and analgesics. Cambridge University Press.
3. Shin YS, Doo AR, Park JK (2018). Let's Take Advantage of Mixtures of Bupivacaine or Ropivacaine in Urologic Inguinal and Scrotal Surgery. The World Journal of Men's Health, 36(2), 171-172.
4. Phạm QM, Bùi LN (2022). Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật lồng ngực của phương pháp tự điều khiển (PCEA) so với tuyền liên tục (CEI) qua catheter ngoài màng cứng. Tạp chí Y học Việt Nam, 514(1),
5. Terheggen MA, Wille F, Borel Rinkes IH, Ionescu TI, Knape JT (2002). Paravertebral blockade for minor breast surgery. Anesth Analg, 94(2), 355-359, table of contents.
6. Raja SN, Carr DB, Cohen M, et al. (2020). The revised International Association for the Study of Pain definition of pain: concepts, challenges, and compromises. Pain, 161(9), 1976-1982.
7. Bertini L, Mancini S, Di Benedetto P, et al. (2001). Postoperative analgesia by combined continuous infusion and patient‐controlled epidural analgesia (PCEA) following hip replacement: ropivacaine versus bupivacaine. Acta anaesthesiologica scandinavica, 45(6), 782-785.
8. Pouzeratte Y, Delay JM, Brunat G, et al. (2001). Patient-controlled epidural analgesia after abdominal surgery: ropivacaine versus bupivacaine. Anesthesia & Analgesia, 93(6), 1587-1592.
9. Parker RK, White PF (1992). Epidural patient-controlled analgesia: an alternative to intravenous patient-controlled analgesia for pain relief after cesarean delivery. Anesthesia & Analgesia, 75(2), 245-251.
10. Maca J, Neiser J, Grasslova L, Trlicova M, Streitov D, Zoubkova R (2020). Patient-controlled epidural analgesia versus conventional epidural analgesia after total hip replacement--a randomized trial. Biomedical Papers of the Medical Faculty of Palacky University in Olomouc, 164(1),
11. Nguyễn Hữu Tài (2020). So sánh hiệu quả gây tê ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) bằng levobupivacain và ropivacain sau mổ lấy thai, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP.HCM.
12. Trần Thị Thu Hằng (2021). Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) bằng levobupivacain kết hợp fentanyl sau mổ lấy thai, Luận văn Thạc sĩ Y học, Học viện Quân y.