ĐẶC ĐIỂM CÁC BỆNH LÝ ĐỒNG MẮC CỦA BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN VIÊM DA DẦU TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Minh Hường1, Vũ Thanh Tùng1, Đoàn Thị Thùy Chi2, Phạm Thị Minh Phương1,2
1 Bệnh viện Da Liễu Trung ương
2 Bộ môn Da liễu, Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm các bệnh lý đồng mắc ở bệnh nhân người lớn viêm da dầu tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương.


Đối tượng: 263 bệnh nhân viêm da dầu người lớn đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương từ tháng 11/2025 đến tháng 4/2026.


Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu.


Kết quả: Bệnh nhân ở nhóm tuổi 20-39 chiếm 60,5%, nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ (64,6% so với 35,4%). Da đầu là vị trí tổn thương hay gặp nhất (83,3%), sau đó là đến rãnh mũi má (63,9%) và lông mày (23,2%). Bệnh nhân có mức độ bệnh trung bình chiếm 70,8%


Trứng cá, viêm da cơ địa, rụng tóc là bệnh da liễu đồng mắc hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 14,8%, 8,7% và 5,3%; không có sự liên quan giữa các bệnh lý da liễu đồng mắc và mức độ nặng của bệnh. Stress và rối loạn mỡ máu là bệnh lý toàn thân đồng mắc hay gặp nhất (20,9% và 15,6%), có mối liên quan giữa bệnh lý toàn thân đồng mắc và mức độ nặng của bệnh (p < 0,05). Stress liên quan đến mức độ ngứa (OR = 1,2; p < 0,001), mức độ nặng của bệnh (OR = 1,7; p = 0,005), rối loạn mỡ máu liên quan đến mức độ đỏ (OR = 2,2; p < 0,001), mức độ vảy (OR = 1,3; p = 0,018) và mức độ nặng của bệnh (OR = 1,1; p < 0,001).


Kết luận: Viêm da cơ địa, trứng cá, rụng tóc là bệnh lý da liễu đồng mắc hay gặp nhất, không có sự liên quan giữa các bệnh lý da liễu đồng mắc và mức độ nặng của bệnh. Stress và rối loạn mỡ máu là bệnh lý toàn thân đồng mắc hay gặp nhất, có mối liên quan giữa các bệnh lý toàn thân đồng mắc và mức độ nặng của bệnh. Stress liên quan đến mức độ ngứa nặng hơn, rối loạn mỡ máu liên quan đến mức độ đỏ, vảy nặng hơn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Navarro Triviño F.J, Velasco Amador J.P, Rivera Ruiz I. Seborrheic dermatitis revisited: pathophysiology, diagnosis, and emerging therapies - a narrative review. Biomedicines, 2025, 13 (10): 2458. doi: 10.3390/biomedicines13102458
[2] Gupta A, Bluhm R, Barlow J, Fleischer, Jr A, Feldman S. Prescribing practices for seborrheic dermatitis vary with the physician’s specialty: implications for clinical practice. Journal of Dermatological Treatment, 2004, 15 (4): 208-13. doi: 10.1080/09546630410032430
[3] Kluglein K.A, South S.C, Toska E, Nadolny R, Yagoda A, Krusz S.J. Exploring systemic comorbidities and lifestyle factors associated with seborrheic dermatitis: a scoping review. Cureus, 2024, 16 (11): e73555. doi: 10.7759/cureus.73555
[4] Desai S, McCormick E, Friedman A. An up-to-date approach to the management of seborrheic dermatitis. J Drugs Dermatol, 2022, 1, 21 (12): 1373-1374. doi: 10.36849/JDD.1022.
[5] Zander N, Sommer R, Schäfer I, Reinert R, Kirsten N, Zyriax B.C et al. Epidemiology and dermatological comorbidity of seborrhoeic dermatitis: population-based study in 161 269 employees. British Journal of Dermatology, 2019, 181 (4): 743-8. doi: 10.1111/bjd.17826
[6] Lê Văn Trung. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm da dầu người lớn mức độ vừa và nặng bằng uống Itraconazol và bôi Tacrolimus. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2021.
[7] Rajashekar T.S, Waikhom S et al. A clinicoepidemiological study of cutaneous and systemic comorbidities of seborrheic dermatitis in adolescent and adult females. Cureus, 2023, 15 (6): e40972. doi: 10.7759/cureus.40972
[8] Misery L, Touboul S et al. Stress et dermatite séborrhéique. Annales de Dermatologie et de Vénéréologie, 2007, 134 (11): 833-7. doi: 10.1016/S0151-9638(07)92826-4
[9] Toruan T.L et al. The relationship between serum lipid profile and sebum secretion in seborrheic dermatitis patients. International Journal of Health Sciences and Research, 2017, 7 (4): 138-143.
[10] Abdulrahman B.B, Elethawi A.M.D, Abdullah H.M. Assessment of lipid profile among patients with seborrheic dermatitis. Bali Med J, 2020, 9 (3): 952-8. doi: 10.15562/bmj.v9i3.1959