RỐI LOẠN CHỨC NĂNG CẦU NỐI ĐỘNG-TĨNH MẠCH TỰ THÂN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI LỌC MÁU CHU KỲ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn chức năng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân và khảo sát một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 126 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ qua cầu nối động-tĩnh mạch tự thân tại Khoa Thận - Thận nhân tạo, Bệnh viện Trưng Vương từ tháng 6/2025 đến tháng 4/2026.
Kết quả: Tỷ lệ rối loạn chức năng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân là 22,2%. Nhóm rối loạn có thời gian mắc bệnh thận mạn, thời gian bệnh thận mạn giai đoạn cuối và thời gian sử dụng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân dài hơn so với nhóm không rối loạn. Trên siêu âm Doppler, nhóm rối loạn có đường kính tĩnh mạch đoạn cách miệng nối 10 cm nhỏ hơn, đồng thời có tỷ lệ dày thành tĩnh mạch dẫn lưu, hẹp miệng nối, hẹp đường ra và huyết khối đường ra cao hơn. Phân tích đa biến ghi nhận thời gian sử dụng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân, lưu lượng tĩnh mạch đoạn 10 cm và dày thành tĩnh mạch dẫn lưu là các yếu tố liên quan độc lập.
Kết luận: Rối loạn chức năng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân gặp ở 22,2% bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Theo dõi lâm sàng kết hợp siêu âm Doppler có giá trị trong phát hiện sớm rối loạn chức năng cầu nối động-tĩnh mạch tự thân.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Cầu nối động-tĩnh mạch tự thân (AVF), rối loạn chức năng, tỷ lệ hiện mắc, yếu tố liên quan, bệnh thận mạn giai đoạn cuối.
Tài liệu tham khảo
[2] Voorzaat B.M, Janmaat C.J et al. Patency outcomes of arteriovenous fistulas and grafts for hemodialysis access: a trade-off between nonmaturation and long-term complications. Kidney360, 2020, 1 (9): 916-24. doi: 10.34067/kid.0000462020.
[3] Cristino D, Neves J.R et al. Patency and maturation rates after forearm arteriovenous fistulas: systematic review with meta-analysis. Journal of Nephrology, 2025, 38 (8): 2111-2127. doi: 10.1007/s40620-025-02346-x.
[4] KDOQI adequacy guidelines. Clinical practice guidelines for peritoneal adequacy, update 2006. American Journal of Kidney Diseases, 2006, 48: S91-S7. doi: 10.1053/j.ajkd.2006.05.016.
[5] Zhang F, Li J et al. Risk factors for arteriovenous fistula dysfunction in hemodialysis patients: a retrospective study. Scientific Reports, 2023, 13 (1): 21325. doi: 10.1038/s41598-023-48691-4.
[6] Al-Jaishi A.A, Oliver M.J et al. Patency rates of the arteriovenous fistula for hemodialysis: a systematic review and meta-analysis. Am J Kidney Dis, 2014, 63 (3): 464-78. doi: 10.1053/j.ajkd.2013.08.023.
[7] Ramanan S.V, Prabhu R.A et al. Outcomes and predictors of failure of arteriovenous fistulae for hemodialysis. International Urology and Nephrology, 2022, 54 (1): 185-92. doi: 10.1007/s11255-021-02908-5.
[8] Robbin M.L, Greene T et al. Prediction of arteriovenous fistula clinical maturation from postoperative ultrasound measurements: findings from the hemodialysis fistula maturation study. Journal of the American Society of Nephrology, 2018, 29 (11): 2735-2744. doi: 10.1681/asn.2017111225.
[9] Raksasuk S, Naweera W et al. Comparing non-invasive diagnostic methods for arteriovenous fistula stenosis: a prospective study. Journal of Ultrasound, 2023, 26 (3): 687-693. doi: 10.1007/s40477-022-00731-x.
[10] Granata A, Maccarrone R et al. A novel duplex ultrasound-based classification of outflow stenosis in native arterio-venous fistulas for hemodialysis. BMC Nephrology, 2025, 26 (1): 670. doi: 10.1186/s12882-025-04595-1.