THỰC TRẠNG TĂNG ĐƯỜNG HUYẾT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở NGƯỜI TỪ 18-69 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2025

Đào Hữu Thân1, Bùi Văn Hào1, Nguyễn Thị Thanh Loan1, Nguyễn Hiển Thanh1, Hoàng Thanh Tuyền1, Hoàng Đức Phúc2, Cao Hồng Trâm3, Bùi Thị Minh Thái1
1 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội
2 Trường Đại học Đại Nam
3 Trạm Y tế phường Kiến Hưng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng tăng đường huyết và một số yếu tố ảnh hưởng ở người từ 18-69 tuổi tại thành phố Hà Nội năm 2025.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 2736 đối tượng từ 18-69 tuổi. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn và xét nghiệm đường huyết. Phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan đến đái tháo đường.


Kết quả: Tỷ lệ đái tháo đường chung là 11,84%, trong đó 7,49% có tiền sử bệnh và 4,35% được phát hiện mới qua xét nghiệm; tỷ lệ tiền đái tháo đường là 13,05%. Tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng theo tuổi, cao hơn ở nhóm 45-69 tuổi so với nhóm 18-44 tuổi (15,85% so với 4,61%). Nam giới, người có trình độ học vấn thấp và sinh sống ở nội thành có tỷ lệ mắc cao hơn. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với đái tháo đường bao gồm: tuổi 45-69 (OR = 2,9; 95% CI: 2,0-4,1), tiền sử tăng huyết áp (OR = 2,5; 95% CI: 1,9-3,2) và thừa cân béo phì (OR = 1,3; 95% CI: 1,01-1,8). Các yếu tố khác như giới tính, khu vực sinh sống, kiến thức, chế độ ăn, hút thuốc, uống rượu bia và hoạt động thể lực không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).


Kết luận: Tỷ lệ đái tháo đường và tiền đái tháo đường trong cộng đồng ở mức đáng chú ý. Nhóm yếu tố về tuổi cao, tiền sử tăng huyết áp và tình trạng thừa cân béo phì là các yếu tố nguy cơ chính. Vì vậy, cần ưu tiên các biện pháp dự phòng và quản lý bệnh hướng đến nhóm nguy cơ cao nhằm giảm gánh nặng đái tháo đường.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Magliano D.J, Boyko E.J. IDF Diabetes Atlas Committee. IDF Diabetes Atlas. 10th ed. Brussels, 2021.
[2] Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia, hoạt động phòng chống các rối loạn thiếu hụt iod (tài liệu nội bộ), Hà Nội, 2013: 3-12.
[3] Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Tóm tắt báo cáo nghiên cứu khoa học điều tra tỷ lệ đái tháo đường, tiền đái tháo đường và một số yếu tố liên quan tại Việt Nam năm 2020. https://benhviennoitiet.vn/tom-tat-bao-cao-nghien-cuu-khoa-hoc-dieu-tra-ty-le-dai-thao-duong-tien-dai-thao-duong-va-mot-so-yeu-to-lien-quan-tai-viet-nam-nam-2020/ [truy cập ngày 3/4/2026].
[4] Bộ Y tế. Khoảng 5 triệu người Việt đang mắc căn bệnh gây nhiều biến chứng về tim mạch, thần kinh, cắt cụt chi. https://moh.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/3Yst7YhbkA5j/content/khoang-5-trieu-nguoi-viet-dang-mac-can-benh-gay-nhieu-bien-chung-ve-tim-mach-than-kinh-cat-cut-chi- [truy cập ngày 3/4/2026].
[5] Bộ Y tế. Điều tra bệnh không lây nhiễm về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam năm 2015. Hà Nội: Bộ Y tế; 2016.
[6] Bộ Y tế. Điều tra STEPS về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam năm 2021, Hà Nội, 2021.
[7] Biswas T, Tran N et al. Type 2 diabetes and hypertension in Vietnam: a systematic review and meta-analysis of studies between 2000 and 2020. BMJ Open, 2022, 12 (8): e052725. doi: 10.1136/bmjopen-2021-052725.
[8] Mills K.T, Bundy J.D, Kelly T.N, Reed J.E, Kearney P.M, Reynolds K et al. Global disparities of hypertension prevalence and control. Circulation, 2020, 141 (9): 678-89.
[9] American Diabetes Association. Cardiovascular disease and risk management: Standards of Medical Care in Diabetes. Diabetes Care, 2022, 45 (Suppl 1): S144-74.
[10] Phạm Ngọc Oanh và cộng sự. Đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 2023, 19 (1-2): 57-65.
[11] Nguyễn Lân Việt và cộng sự. Tăng huyết áp tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 2018, 82: 1-10.
[12] World Health Organization. Hypertension, Geneva, 2021.