KẾT CỤC LÂM SÀNG 12 THÁNG Ở BỆNH NHÂN SUY TIM PHÂN SUẤT TỐNG MÁU GIẢM ĐIỀU TRỊ BẰNG SACUBITRIL/VALSARTAN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sacubitril/valsartan đã chứng minh hiệu quả cải thiện tiên lượng ở bệnh nhân (BN) suy tim phân suất tống máu giảm (STPSTMG) trong các thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, dữ liệu thực hành lâm sàng tại Việt Nam còn hạn chế.
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và kết cục 12 tháng của BN STPSTMG điều trị với và không với sacubitril/valsartan tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu – tiến cứu trên 113 BN STPSTMG theo dõi 12 tháng. Kết cục chính là biến cố gộp (tử vong do mọi nguyên nhân hoặc tái nhập viện do suy tim). Phân tích sống còn sử dụng Kaplan–Meier và hồi quy Cox.
Kết quả: Tuổi trung bình 65,0 ± 15,3; EF ban đầu 28,8 ± 7,7%; NYHA III chiếm 60,2%. Sau 12 tháng, tử vong mọi nguyên nhân 9,7%; tái nhập viện do suy tim 25,7%; biến cố gộp 28,3%. Trong phân tích đơn biến, nhóm sử dụng ARNI có tỷ lệ tử vong thấp hơn (HR 0,13; p=0,006). Sau điều chỉnh theo tuổi và eGFR nền, ARNI vẫn liên quan với nguy cơ tử vong thấp hơn (HR 0,21; KTC 95% 0,055–0,793; p=0,021). Tuy nhiên, đối với biến cố gộp, mối liên quan không còn ý nghĩa sau điều chỉnh theo tuổi và eGFR nền (HR 0,95; p=0,913). EF cải thiện có ý nghĩa ở cả hai nhóm. Tỷ lệ biến cố bất lợi tương đương giữa hai nhóm.
Kết luận: Trong nghiên cứu quan sát này, điều trị có sacubitril/valsartan có liên quan với nguy cơ tử vong thấp hơn ở bệnh nhân STPSTMG sau 12 tháng theo dõi. Tuy nhiên, mối liên quan với biến cố gộp không còn ý nghĩa sau điều chỉnh các yếu tố nền tảng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
suy tim phân suất tống máu giảm, sacubitril/valsartan, ARNI, tử vong, tái nhập viện.
Tài liệu tham khảo
2. McDonagh TA, Metra M, Adamo M, Gardner RS, Baumbach A, Böhm M, et al. 2021 ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure. Eur Heart J. 2021;42(36):3599–3726. doi:10.1093/eurheartj/ehab368.
3. Heidenreich PA, Bozkurt B, Aguilar D, Allen LA, Byun JJ, Colvin MM, et al. 2022 AHA/ACC/HFSA Guideline for the management of heart failure. Circulation. 2022;145(18):e895–e1032. doi:10.1161/CIR.0000000000001063.
4. Nguyễn HT, Lê HQ, Trần TML, Nguyễn VBH. Bước đầu đánh giá hiệu quả và an toàn của Sacubitril/Valsartan ở các bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2019;23(3):169-173.
5. Nguyễn NK, Nguyễn TD. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị suy tim phân suất tống máu giảm bằng thuốc sacubitril/valsartan. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2023;(61):29-35. doi: 10.58490/ctump.2023i61.1232
6. Januzzi JL, Prescott MF, Butler J, Felker GM, Maisel AS, McCague K, et al. PROVE-HF Investigators. Association of change in N-terminal pro-B-type natriuretic peptide following initiation of sacubitril-valsartan treatment with cardiac structure and function in patients with heart failure with reduced ejection fraction. JAMA. 2019;322(11):1085–1095. doi:10.1001/jama.2019.12821.
7. Zile MR, Claggett BL, Prescott MF, McMurray JJV, Packer M, Rouleau JL, et al. Prognostic implications of changes in N-terminal pro-B-type natriuretic peptide in patients with heart failure. J Am Coll Cardiol. 2016;68(22):2425–2436. doi:10.1016/jacc.2016.09.931.
8. Vardeny O, Claggett B, Kachadourian J, Pearson SM, Desai AS, Packer M, et al. Incidence, predictors, and outcomes associated with hypotensive episodes among heart failure patients receiving sacubitril/valsartan or enalapril: the PARADIGM-HF trial. Circ Heart Fail. 2018;11(4):e004745. doi:10.1161/Circheartfailure.117.004745.