Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

THỰC TRẠNG VÀ RÀO CẢN TRONG BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Đặng Ngọc Dũng1,2, Vũ Trường Nhân2,3,4,5, Nguyễn Trần Việt Tánh1,2, Nguyễn Ngọc Pi Doanh1,2, Tăng Kim Hồng4,6
1 Children’s Hospital 2
2 Bệnh viện Nhi Đồng 2
3 Faculty of Medicine, Nam Can Tho University
4 Pham Ngoc Thach University of Medicine
5 Khoa Y, Trường Đại học Nam Cần Thơ
6 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.5844
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát thực trạng và xác định các rào cản trong báo cáo sự cố y khoa (SCYK) của nhân viên y tế (NVYT) tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (BVNĐ2) theo mô hình COM-B (Capability - Opportunity - Motivation - Behaviour).

Phương pháp: Nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính (explanatory sequential design) tại BVNĐ2, từ tháng 01 - 04/2024. Bộ công cụ định lượng gồm 12 rào cản được thiết kế trực tiếp từ mô hình COM-B. Định lượng: khảo sát 424 NVYT bằng phiếu tự điền. Định tính: 31 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) có chủ đích.

Kết quả: Tỉ lệ NVYT có tham gia báo cáo SCYK là 50,7%. Trong mô hình hồi quy Poisson đa biến, các đặc điểm liên quan với tỉ lệ báo cáo cao hơn gồm: giới tính nữ (PR = 1,26), thâm niên ≥ 1 năm, chăm sóc trực tiếp bệnh nhân (PR = 1,72) và tiền sử gây SCYK (PR = 2,06). Tỉ lệ có ít nhất một rào cản là 56,4%; rào cản phổ biến nhất là lo sợ bị kỷ luật (42,7%). Trong phân tích mã định tính theo COM-B, nhóm rào cản động lực chiếm tỷ trọng mã cao nhất (42,5%), tiếp đến là cơ hội (39,1%) và năng lực (18,4%).

Kết luận: Cải thiện báo cáo SCYK không chỉ là vấn đề quy trình mà là quá trình thay đổi hành vi và văn hóa tổ chức. Can thiệp theo khung COM-B nên ưu tiên tác động vào động lực, tiếp theo là cơ hội và năng lực.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. Global patient safety report 2024. Geneva: WHO; 2024. Google Scholar
[2]
Trần Thị Bích Bo. Kiến thức, thái độ, hành vi và một số rào cản trong báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2017. Luận văn Thạc sĩ QLBV. Trường ĐH Y tế công cộng; 2017. Google Scholar
[3]
Nguyễn Anh Nguyễn. Hiệu quả cải thiện tình hình báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện quận Bình Tân năm 2022. Luận văn CK II QLYT. Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch; 2023. Google Scholar
[4]
Lữ Thúy Huê, Hsuesh S-C. Kiến thức, thái độ, hành vi của nhân viên y tế về báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Từ Dũ. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;539(3):163-166. Google Scholar
[5]
Michie S, van Stralen MM, West R. The behaviour change wheel: a new method for characterising and designing behaviour change interventions. Implementation Science. 2011;6:42. Google Scholar
[6]
Bộ Y tế. Thông tư số 43/2018/TT-BYT về việc hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Hà Nội: Bộ Y tế; 2018. Google Scholar
[7]
Afaya A, Yakong VN, Afaya RA, et al. Factors hindering health care workers from reporting medical errors in Ghana: a qualitative study. PLoS One. 2021;16(9):e0258208. Google Scholar
[8]
Ajabari M, Grönlund CF, Engström Å, et al. Barriers and facilitators to medical error reporting among nurses: a systematic review. J Nurs Manag. 2021;29(5):1049-1062. Google Scholar