Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

PHÂN BỐ THỂ BỆNH Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở 299 BỆNH NHÂN XUẤT TINH SỚM TẠI MỘT BỆNH VIỆN TRUNG QUỐC

Nguyễn Đình Thành1,2,3,4, Zhou Shaohu1,3, Hoàng Thúy Hồng5,6, Nguyễn Trường Nam5,6, Hoàng Văn Hiếu7,8, Feng Jiaming9,10, Lê Văn Minh2,4
1 Guangzhou University of Chinese Medicine
2 Vietnam Military Medical University
3 Đại học Trung Y Dược Quảng Châu
4 Học viện Quân y
5 Phenikaa University
6 Đại học Phenikaa
7 Military Institute of Traditional Medicine
8 Viện Y học cổ truyền Quân đội
9 Foshan Chinese Medicine Hospital
10 Bệnh viện Trung Y Phật Sơn
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.5842
32 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát sự phân bố các thể bệnh y học cổ truyền và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân xuất tinh sớm.

Phương pháp: Nghiên cứu loạt ca bệnh được thực hiện trên 299 bệnh nhân xuất tinh sớm tại Bệnh viện số 1 Đại học Trung Y Dược Quảng Châu, Trung Quốc, từ tháng 5/2023 đến tháng 2/2024. Bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Y học Tình dục Quốc tế (2014), được phân thành 4 thể bệnh y học cổ truyền gồm: Thận khí bất cố, Can uất Thận hư, Thấp nhiệt hạ chú và Âm hư hỏa vượng. Các thông tin về tuổi, thời gian mắc bệnh, loại xuất tinh sớm, điểm PEDT và rối loạn cương dương kèm theo được thu thập và phân tích.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 32,16 ± 7,17 tuổi; 83,61% bệnh nhân dưới 40 tuổi. Thể Thận khí bất cố chiếm tỷ lệ cao nhất với 75,93%, tiếp theo là Can uất Thận hư (12,37%), Thấp nhiệt hạ chú (7,02%) và Âm hư hỏa vượng (4,68%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố thể bệnh giữa nhóm xuất tinh sớm nguyên phát và thứ phát (p = 0,464). Điểm PEDT ở nhóm xuất tinh sớm nguyên phát cao hơn nhóm thứ phát có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

Kết luận: Thận khí bất cố là thể bệnh y học cổ truyền chiếm ưu thế ở bệnh nhân xuất tinh sớm. Xuất tinh sớm nguyên phát và thứ phát có phân bố thể bệnh tương tự nhau, nhưng nhóm nguyên phát có mức độ triệu chứng nặng hơn theo điểm PEDT. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở cho biện chứng luận trị cá thể hóa trong điều trị xuất tinh sớm bằng y học cổ truyền.

Tài liệu tham khảo
[1]
Althof S.E, McMahon C.G, Waldinger M.D et al. An update of the International Society of Sexual Medicine’s Guidelines for the diagnosis and treatment of premature ejaculation (PE). Sexual Medicine, 2014, 2 (2): 60-90. doi: 10.1002/sm2.28 Google Scholar
[2]
早泄中西医结合多学科诊疗指南. 中国男科学杂志, 2021, 35 (03): 66-72. Google Scholar
[3]
吴若萌, 王开振 & 张太君.早泄中西医治疗研究进展. 实用中西医结合临床, 2023, 23 (18): 120-124. doi: 10.13638/j.issn.1671-4040.2023.18.035. Google Scholar
[4]
Huang Y.P, Liu W, Zhang M et al. Clinical characteristics and influencing factors of premature ejaculation patients in andrology clinic. Journal of Sun Yat-sen University (Medical Sciences) , 2022, 43 (6): 892-897. Google Scholar
[5]
Song S.H, Choi W.S, Son H, Paick J.S. Validity of the premature ejaculation diagnostic tool in four subgroups of premature ejaculation syndrome: data from the Korean Internet Sexuality Survey - part 1. Sexual Health, 2014, 11 (1): 73-80. doi: 10.1071/SH13171 Google Scholar
[6]
Porst H, Montorsi F, Rosen R.C et al. The premature ejaculation prevalence and attitudes (PEPA) survey: prevalence, comorbidities, and professional help-seeking. European Urology, 2007, 51 (3): 816-824. doi: 10.1016/j.eururo.2006.07.004 Google Scholar
[7]
El-Hamd M.A, Saleh R, Majzoub A. Premature ejaculation: an update on definition and pathophysiology. Asian journal of andrology, 2019, 21 (5): 425-432. doi: 10.4103/aja.aja_122_18 Google Scholar
[8]
Chen X. Clinical characteristics and influencing factors of different types of premature ejaculation patients [dissertation]. Guangzhou University of Chinese Medicine, 2016. Google Scholar
[9]
Rowland D.L, Kövi Z, Tamas S, Hevesi K. Do ejaculation latency and other sexual measures differ between men with lifelong and acquired premature ejaculation? Urology, 2024, 184: 112-121. doi: 10.1016/j.urology.2023.09.055 Google Scholar