Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 29/07/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN BẢO TỒN TĨNH MẠCH HIỂN LỚN TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DƯƠNG VẬT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Lại Hoàng Lâm1,2, Nguyễn Hữu Thảo1,2,3,4, Nguyễn Quang3,4,5,6, Nguyễn Tiến Dũng3,4,5,6, Lưu Quang Long3,4,5,6, Lê Văn Long3,4, Cao Đắc Tuấn3,4
1 Hanoi Medical University
2 Trường Đại Học Y Hà Nội
3 Viet Duc University Hospital
4 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
5 School of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
6 Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.5799
22 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tính an toàn, hiệu quả ung thư học và khả năng giảm thiểu biến chứng của kỹ thuật phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn hoàn toàn ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy dương vật.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh tiến hành trên 38 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn hoàn toàn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3/2022 đến tháng 3/2025. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: đặc điểm chu phẫu; biến chứng hậu phẫu (dựa trên phân loại Clavien-Dindo); xác suất sống thêm không bệnh; xác suất sống không tái phát tại vùng bẹn. Phân tích sống còn được phân tích bằng phương pháp Kaplan-Meier và kiểm định log-rank.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 52,9 ± 11,1 tuổi. Thời gian phẫu thuật chung trung bình là 136,1 ± 35,1 phút. Số lượng hạch bẹn nạo được trung bình đạt 16,9 ± 5,6 hạch. Giảm thiểu biến chứng vạt da với tỉ lệ nhiễm trùng và hoại tử da là 0%. Tỷ lệ biến chứng chung là 18,4% trong đó tỷ lệ tụ dịch sau mổ là 7,9%. Với thời gian theo dõi trung vị đạt 29,5 tháng, xác suất sống thêm không bệnh và sống không tái phát tại vùng bẹn sau 2 năm lần lượt đạt 89% và 97%. Phân tích tương quan tại điểm cắt 12 hạch cho thấy không có sự khác biệt về xác suất sống thêm không bệnh (p = 0,362) và sống không tái phát tại vùng bẹn (p = 0,637) giữa nhóm nạo vét được < 12 hạch và ≥ 12 hạch trong thời điểm theo dõi.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển là một phương pháp an toàn, khả thi và mang lại hiệu quả ung thư học tối ưu. Kỹ thuật này có thể giúp loại bỏ tình trạng hoại tử vết mổ, giảm thiểu đáng kể tỷ lệ phù bạch huyết chi dưới, đồng thời đảm bảo số lượng hạch nạo chuẩn và duy trì kiểm soát bệnh tại chỗ lâu dài.

Tài liệu tham khảo
[1]
European Association of Urology. EAU-ASCO Guidelines on penile cancer 2026. Arnhem, The Netherlands: EAU Guidelines Office, 2026. Accessed March 4, 2026. Google Scholar
[2]
National Comprehensive Cancer Network. NCCN clinical practice guidelines in oncology: penile cancer, version 1.2026. Plymouth Meeting, PA: National Comprehensive Cancer Network, 2026. Accessed March 4, 2026. Google Scholar
[3]
Tobias-Machado M, Ornellas A.A, Hidaka A.K et al. Long-term surgical and oncological outcomes after video endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL) in patients with penile cancer. Int Braz J Urol, 2023, 49 (5): 580-589. doi: 10.1590/S1677-5538.IBJU.2023.0065 Google Scholar
[4]
Alqudrah F, Passarelli R, Sykes J, Islam R, Chua K, Ghodoussipour S. Video-endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL): oncological and surgical benefits compared to open inguinal lymph node dissection (ILND). J Mens Health, 2024, 20 (7): 20-25. doi: 10.22514/jomh.2024.106 Google Scholar
[5]
Salazar-Messias I.M, Sotelo R, Subirá-Ríos D et al. Techniques, outcomes, and complications of minimally invasive inguinal lymphadenectomy in cancer of the penis: an international clinical review. AME Med J, 2023, 8: 24. doi: 10.21037/amj-22-68 Google Scholar
[6]
Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Quang, Trịnh Hoàng Giang, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Xuân Trường. Xử lý hạch trong điều trị ung thư dương vật: Tổng quan. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2024, 65 (CĐ 4): 180-187. doi: 10.52163/yhc.v65iCD4.1173 Google Scholar
[7]
Andreșanu A, Gîngu C, Georgescu D.E et al. Prognostic factors of survival in patients with surgically treated penile squamous cell carcinoma: a retrospective cohort analysis. Cancers (Basel), 2026, 18 (6): 952. doi: 10.3390/cancers18060952 Google Scholar
[8]
Tan Y.G, Fong K.Y, Goh N.K et al. Comparing the perioperative and oncological outcomes of open versus minimally invasive inguinal lymphadenectomy in penile cancer: a systematic review and meta-analysis. Cancers (Basel), 2025, 17 (18): 3035. doi: 10.3390/cancers17183035 Google Scholar
[9]
Shao Y, Hu X, Ren S et al. Comparison of different surgical methods and strategies for inguinal lymph node dissection in patients with penile cancer. Sci Rep, 2022, 12 (1): 2560. doi: 10.1038/s41598-022-06494-z Google Scholar
[10]
Gao Y, Shao Y, Li X et al. Risk factors of complications after inguinal lymph node dissection in patients with penile cancer. J Clin Oncol, 2025, 43 (5_suppl): 6. doi: 10.1200/JCO.2025.43.5_suppl.6 Google Scholar
[11]
Gómez-Ferrer A, Collado A, Ramírez M et al. A single-center comparison of initial experiences treating penile and urethral cancer with video endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL), and its later application in melanoma patients. Front Surg, 2022, 9: 870857. doi: 10.3389/fsurg.2022.870857 Google Scholar
[12]
Li Z.S, Yao K, Chen P et al. Disease-specific survival after radical lymphadenectomy for penile cancer: prediction by lymph node count and density. Urol Oncol, 2014, 32 (6): 893-900. doi: 10.1016/j.urolonc.2013.11.008 Google Scholar