Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ8-NCKH 06/07/2026

THỰC TRẠNG NHU CẦU CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG RỐI LOẠN NUỐT TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY NĂM 2025

Yến Hoàng Thị Kim1,2, Hiếu Nguyễn Văn3,4, Tương Vũ Viết5,6, Khiết Phạm Văn1,2, Mạnh Nguyễn Tiến1,2, Chính Nguyễn Đức1,2, Tuấn Vũ Đình1,2, Đạt Đỗ Tiến7,8, Quý Nguyễn Viết7,8, Thu Bế Hồng9,10
1 Vinmec Times City International General Hospital
2 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
3 Phuong Bac General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc
5 Vinmec Central Park International General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
7 KUSUMI Hospital
8 Bệnh viện KUSUMI
9 Thang Long University
10 Trường Đại học Thăng Long
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD8.5724
56 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng rối loạn nuốt trên những người bệnh đột quỵ não trong giai đoạn cấp tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.

Phương pháp: Điều tra mô tả cắt ngang.

Kết quả: Tỷ lệ rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025: nhóm rối loạn nuốt nặng chiếm 51,7%, rối loạn nuốt trung bình chiếm 15,8%, rối loạn nuốt nhẹ chiếm 2,5%. Đa số người bệnh cần được hỗ trợ hoàn toàn trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày (76,2-77,4%); trong giao tiếp (57,1%); trong các hoạt động vận động cơ bản (81%).

Kết luận: Tỷ lệ rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025 rất cao. Rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp chiếm tỷ lệ đáng kể, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Vân, Phạm Văn Minh. Đánh giá kết quả điều trị rối loạn nuốt ở người bệnh nhồi máu não bằng các bài tập nuốt kết hợp chất làm đặc thức ăn. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 507 (1): 240-244. doi: 10.51298/vmj.v507i1.1368 Google Scholar
[2]
Võ Hoàng Nghĩa và cộng sự. Nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng và một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày người bệnh đột quỵ não khi xuất viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2021, 16 (1): 135-143, doi: 10.52389/ydls.v16i1.704 Google Scholar
[3]
Velasco L.C, Imamura R et al. Sensitivity and specificity of bedside screening tests for detection of aspiration in patients admitted to a public rehabilitation hospital. Dysphagia, 2021, 36 (5): 821-830. doi: 10.1007/s00455-020-10198-9. Google Scholar
[4]
National Health Service in Scotland Quality Improvement Scotland, Scottish Intercollegiate Guidelines Network. Management of patients with stroke: identification and management of dysphagia: a national clinical guideline. Scottish Intercollegiate Guidelines Network SIGN, 2010, pp. 78-84. http://resource.nlm.nih.gov/101609300 Google Scholar
[5]
Bộ Y tế. Quyết định số 5331/QĐ-BYT, ngày 23/12/2020, về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não”. Google Scholar
[6]
World Health Organization. Global Health Estimates: Stroke burden worldwide, Geneva, 2019, pp. 33-44. Google Scholar
[7]
Smith A, Johnson B, Lee C. Gender differences in stroke incidence and outcomes. Stroke, 2018, pages 57-88, https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC2992642/ Google Scholar
[8]
Martino R et al. Dysphagia after stroke: incidence, diagnosis, and pulmonary complications. Stroke, 2005, 36 (12): 2756-63. 35-56. doi: 10.1161/01.STR.0000190056.76543.eb. Google Scholar
[9]
Mann G, Hankey G.J, Cameron D. Swallowing function after stroke: prognosis and prognostic factors at 6 months. Stroke, 1999, 30 (4): 744-8. doi: 10.1161/01.str.30.4.744. Google Scholar