Bài báo khoa học Tập 63 Số chuyên đề 3-HN Sản Nhi Nghệ An (2022) 30/11/2022

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA TRẺ ĐỘNG KINH KHÁNG THUỐC TẠI KHOA THẦN KINH - BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN NĂM 2022

Hồ Đăng Mười1,2, Nguyễn Đức Thuận3,4, Nguyễn Đăng Tôn5,6
1 Nghe An Hospital of Obstetrics and Pediatrics
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
3 Military Hospital 103
4 Học viện Quân y 103
5 Vietnam Academy of Science and Technology
6 Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tác giả liên hệ: dr.dangmuoi@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v63i8.536
20 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Tìm hiểu thực trạng tuân thủ điều trị của trẻ động kinh kháng thuốc cũng như một số yếu tố liên quan đến điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An. Đối tượng-Phương pháp: Mô tả cắt ngang toàn bộ bệnh nhi được chẩn đoán động kinh kháng thuốc theo tiêu chuẩn WHO, đang điều trị thuốc kháng động kinh tối thiểu 12 tháng và người chăm sóc chính tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An trong thời gian từ tháng 09/2021 - 09/2022. Kết quả: Có 75 trẻ phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu. 47,8% trẻ thuộc nhóm 1-5 tuổi, 91,1% bố mẹ là người chăm sóc trực tiếp. Trình độ học vấn người chăm sóc từ cấp 3 trở lên là 68,0%. Tiền sử trẻ có 24% co giật do sốt. Thời gian điều trị động kinh kéo dài đa số trên 2 năm 60%. Số bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt chiếm 84%. Tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn người chăm sóc đến mức độ tuân thủ điều trị (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị và tái khám khá cao. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn người chăm sóc với tuân thủ điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Hoàng Khánh, Động kinh, Giáo trình Nội thần kinh, NXB Đại học Huế, trang 143-156, 2007 Google Scholar
[2]
Cao Ngọc Thành, Động kinh trẻ em, Giáo trình Nhi khoa tập 2, NXB Đại học Huế, trang 319-328, 2017 Google Scholar
[3]
Đặng Anh Tuấn, Một số cập nhật về động kinh kháng thuốc ở trẻ em, Hội thảo khoa học về động kinh và viêm não tự miễn, Hà Nội, tr 01-18, 2018 Google Scholar
[4]
Lê Văn Tuấn và CS, "Các yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh trẻ em", tạp chí Y Học TP.HCM, tập 18(1), tr. 521-527, 2014 Google Scholar
[5]
Liu L, Medication education for patients with epilepsy in Taiwan, Seizure, 12, pp.473-477, 2003. Google Scholar
[6]
Dima SA, Antiepileptic drug adherence in children in southern Ethiopia: A cross sectional study, Plos One, pp. 1-13, 2022. Google Scholar
[7]
Yang C, The prevalence rates of medication adherence and factors influencing adherence to antiepileptic drugs in children with epilepsy: A systematic review and meta analysis, EpilepsyResearch, 142, pp.88-9, 2018. Google Scholar
[8]
Ferrari CMM, Factors associated with treatment non-adherence in patients with epilepsy in Brazil, Seizure, 22, pp.384-389, 2013. Google Scholar
[9]
Mendorf S, Detecting Reasons for Nonadherence to Medication in Adults with Epilepsy: A Review of Self-Report Measures and Key Predictors, Journal ò Clinical Medicine, 11 (4308), pp.1-21, 2022. Google Scholar
[10]
Shope FT, Medication Compliance, Pediatric Clinics of North America, Vol 5 (21), pp. 5-21, 1981. Google Scholar