Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ STRESS CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG XÃ XUÂN ĐÔNG VÀ XÃ CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI NĂM 2025

Nguyễn Thị Yến Nhi1,2, Nguyễn Trung Hòa3,4, Đoàn Văn Hậu5,6
1 Cam My regional Medical Center
2 Trung tâm Y tế khu vực Cẩm MỹTrung tâm Y tế khu vực Cẩm Mỹ
3 Go Vap regional Medical Center
4 Trung tâm Y tế khu vực Gò Vấp
5 Tra Vinh University
6 Trường Đại học Trà Vinh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4284
80 Lượt xem
30 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm và stress của học sinh các trường trung học phổ thông xã Xuân Đông và xã Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai năm 2025.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cứu mô tả cắt ngang trên 400 học sinh trung học phổ thông tại xã Xuân Đông và xã Cẩm Mỹ nhằm mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm và stress của học sinh năm 2025.

Kết quả: Tỷ lệ học sinh có biểu hiện lo âu, stress, trầm cảm lần lượt là 65,5%; 50,3% và 32,8%. Tỷ lệ học sinh có mức độ stress nhẹ, vừa và nặng lần lượt là 26,5%; 18,3% và 5,5%. Tỷ lệ học sinh có mức độ lo âu nhẹ, vừa và nặng lần lượt à 24,7%; 39,3% và 1,5%. Tỷ lệ học sinh có mức độ trầm cảm nhẹ, vừa lần lượt là 29,0% và 3,8%. Học sinh nam có nguy cơ stress và lo âu thấp hơn nữ sinh (0,66 lần và 0,78 lần). Nguy cơ stress, lo âu, trầm cảm tăng theo khối lớp, cao nhất ở lớp 12 stress gấp 3,25 lần, lo âu gấp 1,83 lần, trầm cảm gấp 4,68 lần so với lớp 10. Vận động thể lực từ 4 lần/tuần trở lên giúp giảm nguy cơ trầm cảm.

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh lo âu, trầm cảm và stress khá phổ biến. Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập và sự phát triển tâm sinh lý của học sinh, do đó cần xây dựng chương trình hỗ trợ tâm lý cho học sinh đặc biệt là học sinh nữ và học sinh cuối cấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
Danh Thành Tín, Lê Minh Thuận, Huỳnh Ngọc Thanh. Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh Trường Trung học phổ thông chuyên Vị Thanh tỉnh Hậu Giang và các yếu tố liên quan. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2021, 25 (2): 161-167. http://dspace.hmtu.edu.vn/handle/DHKTYTHD_123/9448 Google Scholar
[2]
Ngô Thị Diệu Hường, Đào Thị Hồng Diễm và cộng sự. Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh trung học phổ thông thành phố Huế năm học 2020-2021. Tạp chí Y học dự phòng, 2022, 32 (3): 85-92. doi: 10.51403/0868-2836/2022/642 Google Scholar
[3]
Ngô Văn Mạnh, Phạm Thị Hương Ly. Thực trạng lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 12 tại hai trường trung học phổ thông của thành phố Thái Bình năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 506 (2): 126-131. doi: 10.51298/vmj.v506i2.1256 Google Scholar
[4]
Phan Thanh Hải, Phan Phương Thảo và cộng sự. Thực trạng stress của học sinh lớp 12 Trường Đinh Tiên Hoàng tỉnh Đồng Nai năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 518 (1): 99-103. doi: 10.51298/vmj.v518i1.3327 Google Scholar
[5]
Trần Hồ Vĩnh Lộc, Huỳnh Ngọc Vân Anh, Tô Gia Kiên. Trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2024, 27 (5): 100-110. doi: 10.32895/hcjm.m.2024.05.12 Google Scholar
[6]
Chinh Thi Minh Ha, Huong Thi Nguyen et al. Vietnamese students’ awareness of mental health issues and academic burnout. ASEAN Journal of Psychiatry, 2024, 25 (3): 1-11. doi: 10.54615/2231-7805.47346. Google Scholar
[7]
Noetel M, Sanders T et al. Effect of exercise for depression: systematic review and network meta-analysis of randomised controlled trials. BMJ, 2024, 384: e075847. doi: 10.1136/bmj-2023-075847. Google Scholar
[8]
Obeng-Okon N.A.S, Opoku D.A et al. Prevalence and correlates of depression among students in a senior high school in Ghana: A school-based cross-sectional study. Sage Open Medicine, 2024, 12: 1-9. doi: 10.1177/20503121241229841. Google Scholar
[9]
Recchia F, Bernal J.D.K et al. Physical activity interventions to alleviate depressive symptoms in children and adolescents: A systematic review and meta-analysis. JAMA Pediatrics, 2023, 177 (2): 132-140. doi: 10.1001/jamapediatrics.2022.5090. Google Scholar