Mục tiêu: Mô tả đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, được chẩn đoán xác định rối loạn lo âu lan tỏa theo ICD-10 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ ở đối tượng bệnh nhân này.
Kết quả: 85,7% đối tượng nghiên cứu có rối loạn giấc ngủ. Đa số rối loạn giấc ngủ xuất hiện trước khi triệu chứng lo âu rõ rệt (67,8%). Thời gian rối loạn giấc ngủ trước vào viện trên 3 tháng là 52,2%. Về số đêm rối loạn giấc ngủ trong tuần, hầu hết đối tượng nghiên cứu có từ 5 đêm/tuần trở lên chiếm tỷ lệ 44,4%. Trong các loại mất ngủ, mất ngủ đầu giấc chiếm tỷ lệ cao nhất với 93,3%, tiếp đó là khó duy trì giấc ngủ chiếm 74,4%. Một người bệnh có thể có 1, 2 hoặc 3 loại mất ngủ, trong đó tỷ lệ có 3 loại mất ngủ chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,2%. Theo đánh giá trên thang điểm ISI, mức độ mất ngủ vừa chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,2%, tiếp đó là mức độ nhẹ với 27,8%. Mất ngủ đa phần ảnh hưởng đến chất lượng công việc trong ngày với mức vừa chiếm đa số 56,7%, có tới 31,1% mức độ nặng dẫn đến không làm được công việc.
Kết luận: Rối loạn giấc ngủ thường gặp ở người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa. Người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa có thể có 1, 2 hoặc cả 3 loại mất ngủ, trong đó mất ngủ đầu giấc là loại mất ngủ hay gặp nhất. Mất ngủ gây ảnh hưởng nhiều đến công việc, trong nghiên cứu mức độ ảnh hưởng đến chất lượng công việc hàng ngày với mức độ ít, vừa và mức độ nặng dẫn đến không làm được công việc