Bài báo khoa học Tập 67 Số 1 15/01/2026

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ TỪ 5-10 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Đỗ Thị Dung1,2, Lưu Thị Mỹ Thục3,4, Trương Văn Quý1,2,5,6
1 Hanoi Medical University
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 National Children’s Hospital
4 Bệnh viện Nhi Trung ương
5 E Hospital
6 Bệnh viện E
DOI: 10.52163/yhc.v67i1.4177
26 Lượt xem
11 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 5-10 tuổi tại Phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương; nhận xét một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Kết quả: Trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân (31,9%), thấp còi (21,3%), gầy còm (16,9%) và TC-BP (5,5%) không có sự khác biệt về giới. Trẻ khi sinh nhẹ cân có tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng nhẹ cân cao hơn 3,7 lần và suy dinh dưỡng gầy còm hơn 4,7 lần so với trẻ đủ cân khi sinh. Chiều cao của bố và mẹ đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới chiều cao theo tuổi của con, ảnh hưởng của mẹ (β = 0,199; p = 0,001) mạnh hơn so với bố (β = 0,178; p = 0,004) và có sự khác biệt giữa trẻ trai và trẻ gái. Thói quen bỏ ăn sáng của trẻ làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi lên 8,3 lần, trẻ ăn nhanh có nguy cơ TC-BP gấp 8,4 lần so với trẻ ăn lâu.

Kết luận: Tỷ lệ trẻ em từ 5-10 tuổi mắc suy dinh dưỡng còn cao ở cả 3 thể, cần có những biện pháp can thiệp dinh dưỡng đúng và kịp thời để có thể cải thiện tầm vóc của trẻ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2019-2020, 2021. Google Scholar
[2]
Saavedra J.M, Prentice A.M.Nutrition in schoolage children: a rationale for revisiting priorities. Nutr Rev, 2022, 81 (7): 823-843. 10.1093/nutrit/nuac015. Google Scholar
[3]
Nguyễn Thái Hà, Lưu Thị Mỹ Thục. Tình trạng dinh dưỡng và thiếu hụt vitamin D ở trẻ 6-11 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp chí Dinh dưỡng và Google Scholar
[4]
Thực phẩm, 2018, 14 (5): 53-59. Google Scholar
[5]
Lê Thị Hiệp, Lê Danh Tuyên, Trần Thúy Nga và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học 3 tỉnh miền Bắc năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 516 (1): 190-194. https://doi.org/10.51298/vmj.v516i1.282. Google Scholar
[6]
Best C, Neufingerl N et al. The nutritional status of school-aged children: why should we care? Food and Nutrition Bulletin, 2010, 31 (3): 400-17. 10.1177/156482651003100302. Google Scholar
[7]
Nguyen Thi Phuong, Nguyen Hong Phuong, Tran Mai Lan et al. Growth patterns of preterm and small for gestational age children during the first Google Scholar
[8]
years of life. Food and Nutrition, 2024, 11: 1348225. 10.3389/fnut.2024.1348225. Google Scholar
[9]
Wu H, Ma C, Yang L, Xi B.Association of parental height with offspring stunting in 14 low- and middle-income countries. Food and Nutrition, 2021, 8: 650976. 10.3389/fnut.2021.650976. Google Scholar
[10]
Lê Nguyễn Bảo Khanh, Nguyễn Hồng Trường, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Đỗ Vân Anh, Ilse-Tan Khow, Paul Deurenberg. Tác động của bỏ bữa sáng lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo, mầm non và tiểu học (2-11 tuổi). Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 2016, 12 (1): 39-46. Google Scholar
[11]
Trần Thị Hoài Thanh, Hoàng Hà. Thực trạng thừa cân béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh Trường Tiểu học Tuyên Quang, thành phố Phan Google Scholar
[12]
Thiết, tỉnh Bình Thuận. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 536 (2): 85-89. https://doi.org/10.51298/vmj.v536i2.8883 Google Scholar