Mục tiêu: Đánh giá và so sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp gây tê ngoài màng cứng tiêm ngắt quãng theo chương trình bằng dung dịch Ropivacain 0,1% kết hợp Fentanyl 2 µg/ml với 3 thể tích Ropivacain bolus khác nhau (6 ml, 8 ml và 10 ml/60 phút).
Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, tiến hành từ tháng 3/2025 đến tháng 9/2025 tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trên 90 sản phụ con so, thai đủ tháng, ngôi đầu, ASA I-II. Các đối tượng được phân ngẫu nhiên vào 3 nhóm (30 sản phụ/nhóm), lần lượt nhận bolus 6 ml, 8 ml hoặc 10 ml dung dịch gây tê qua bơm tiêm điện Terumo. Hiệu quả giảm đau được đánh giá qua điểm VAS, số liều cứu, mức độ hài lòng của sản phụ, ảnh hưởng đến cơn co tử cung, tiến trình chuyển dạ và vận động theo thang điểm Bromage. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
Kết quả: Điểm VAS giảm nhanh ở cả 3 nhóm, đạt mức thấp nhất tại thời điểm sau gây tê 1 giờ 10 phút (1,3-1,4 điểm). Tại thời điểm sau gây tê 1 giờ 40 phút, nhóm 10 ml có hiệu quả giảm đau tốt nhất (VAS 2,2 ± 0,4; p = 0,00). Nhóm 10 ml cũng không cần dùng liều cứu, trong khi nhóm 6 ml có số liều cứu trung bình cao nhất (0,30 ± 0,70; p = 0,03). Vận động hầu như được duy trì với 96,7% sản phụ ở mức Bromage 0. Hoạt động cơn co tử cung và tiến trình chuyển dạ diễn biến sinh lý bình thường, không khác biệt giữa các nhóm (p > 0,05). Mức độ rất hài lòng cao nhất ghi nhận ở nhóm 10 ml (33,3%), so với nhóm 8 ml (23,3%) và nhóm 6 ml (3,3%) (p = 0,01).
Kết luận: Phương pháp tiêm ngắt quãng theo chương trình với Ropivacain 0,1% kết hợp Fentanyl 2 µg/ml an toàn và hiệu quả trong giảm đau chuyển dạ. Thể tích bolus 10 ml/60 phút cho thấy ưu thế vượt trội về hiệu quả giảm đau, tính ổn định và mức độ hài lòng của sản phụ so với 8 ml và 6 ml.