Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp truyền thuốc tê liên tục với phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều nhỏ thuốc tê khi gây tê ngoài màng cứng bằng Anaropin 0,1% phối hợp với Fentanyl 1 mg/ml.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh, trên 40 sản phụ đẻ giảm đau bằng phương pháp truyền thuốc tê liên tục (nhóm CEI) và 40 sản phụ đẻ giảm đau bằng phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều nhỏ thuốc tê (nhóm PIEB) khi gây tê ngoài màng cứng bằng Anaropin 0,1% phối hợp với 1 mg/ml Fentanyl, tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025.
Kết quả: Thời gian khởi tê trung bình ở hai nhóm không khác biệt (nhóm CEI 10,70 ± 1,92 phút; nhóm PIEB 10,88 ± 2,94 phút; p > 0,05). Sau gây tê, điểm VAS của cả hai nhóm đều giảm, nhưng từ phút thứ 20 trở đi nhóm PIEB giảm đau tốt hơn (p < 0,05). Ở giai đoạn II chuyển dạ và khi khâu tầng sinh môn, điểm VAS nhóm PIEB thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Cảm giác và khả năng rặn được duy trì tốt ở cả hai nhóm (p > 0,05). Lượng thuốc giảm đau trung bình ở nhóm PIEB thấp hơn nhóm CEI (29,90 ± 10,11 mg so với 38,06 ± 18,09 mg; p < 0,05). Không có sản phụ nhóm PIEB cần bolus bổ sung (0% so với 17,5%; p < 0,05). Thời gian giảm đau sau sinh dài hơn ở nhóm PIEB (1,84 ± 0,24 giờ so với 1,69 ± 0,37 giờ; p < 0,05). Mức độ hài lòng của sản phụ cao hơn ở nhóm PIEB (100% so với 92,5%).
Kết luận: Phác đồ gây tê của nhóm nhóm PIEB cho hiệu quả giảm đau tốt hơn, kéo dài hơn, sử dụng ít thuốc hơn và mức độ hài lòng của sản phụ cao hơn so với nhóm CEI. Cả hai phác đồ đều duy trì tốt cảm giác và khả năng rặn, không ảnh hưởng đến tiến trình chuyển dạ hay tỷ lệ mổ lấy thai.