Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ3-HNKH Ký Sinh Trùng VN lần thứ 51 24/03/2025

49. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA TRẺ BỊ VIÊM PHỔI CÓ TIỀN SỬ MẮC COVID-19 TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Trần Thị Vân Anh1,2,3,4, Nguyễn Thành Nam5,6, Nguyễn Thị Phú Mỹ2,4, Đỗ Hoàng Hải5,6, Nguyễn Ngọc Thái7,8, Phạm Văn Đếm2,4,5,6
1 National Children’s Hospital
2 VNU, University of Medicine and Pharmacy
3 Bệnh viện Nhi Trung ương
4 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Bach Mai Hospital
6 Bệnh viện Bạch Mai
7 Phu Tho Viet Duc General Hospital
8 Bệnh viện Đa khoa Việt Đức Phú Thọ
Tác giả liên hệ: phamdemhd@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCĐ3.2175
19 Lượt xem
10 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của trẻ bị viêm phổi có tiền sử mắc COVID-19 tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2021-2022.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 170 bệnh nhi tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai, trong đó có 85 bệnh nhi viêm phổi có tiền sử mắc COVID-19 và 85 bệnh nhi viêm phổi không có tiền sử mắc COVID-19 từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2022.

Kết quả: Có 85 trẻ mắc viêm phổi có tiền sử COVID-19, với tuổi trung bình là 4,11 ± 3,8 tuổi. Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất lần lượt là ho (90,6%), khó thở (77,6%), khò khè (72,9%). Ran phổi là triệu chứng thực thể thường gặp nhất chiếm 82,4%. Tỷ lệ trẻ mắc viêm phổi có số lượng bạch cầu tăng và CRP tăng lần lượt là 71,8% và 10,6%. Kết quả tổn thương phổi trên X quang chiếm 97,6%. Triệu chứng sốt, khò khè, khó thở ở nhóm viêm phổi có tiền sử COVID-19 cao hơn nhóm viêm phổi không có tiền sử COVID-19 (p < 0,05). Triệu chứng viêm long đường hô hấp ít hơn so với nhóm đối chứng (p < 0,05). Ran phổi cũng xuất hiện ít hơn ở nhóm viêm phổi có tiền sử COVID-19 so với nhóm đối chứng (p < 0,05). Nhóm viêm phổi có tiền sử COVID-19 có thời gian điều trị trung bình là 7,73 ± 4,7 ngày, thời gian nằm viện trên 2 tuần chiếm 9,4%. Kết quả điều trị có 98,8% bệnh nhân khỏi bệnh, chỉ có 1,2% chuyển về bệnh viện tỉnh điều trị tiếp.

Kết luận: Viêm phổi sau COVID-19 là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm sau đại dịch, tuy nhiên chưa nhận thấy nhiều sự khác biệt rõ ràng về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa bệnh nhân viêm phổi có hoặc không tiền sử mắc COVID-19. Nhìn chung tỷ lệ điều trị thành công cao, thời gian nằm viện ngắn, hiệu quả với các phác đồ kháng sinh thông thường.

Tài liệu tham khảo
[1]
Hoàng Thị Huế, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Phượng và cộng sự, Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm phổi sau nhiễm COVID-19 ở trẻ em tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2023, 228 (13): 11-18. Google Scholar
[2]
Bộ Y tế, Quyết định số 4235/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp”, ngày 31 tháng 10 năm 2012. Google Scholar
[3]
Lê Nam Trà, Các hằng số, chỉ số sinh học ở trẻ em Việt Nam, 1990. Google Scholar
[4]
Vũ Thị Minh, Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Thúy Hòa và cộng sự, Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của viêm phổi do Adenovirus tại Trung tâm Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 542 (9), 48-51. Google Scholar
[5]
Tống Vấn Thùy, Nguyễn Thị Hồng Trân, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số yếu tố viêm phổi mắc phải cộng đồng sau bệnh COVID-19, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, 66, 29-35. Google Scholar
[6]
Đinh Dương Tùng Anh, Hoàng Ngọc Anh, Phạm Thị Thanh Tâm và cộng sự, Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh viêm phổi thùy ở trẻ em tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2022, Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 534 (1B), 323-327. Google Scholar