Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ3-HNKH Ký Sinh Trùng VN lần thứ 51 24/03/2025

30. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI MẮC RUNG NHĨ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT, THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH, NĂM 2023

Nguyễn Thị Thảo Sương1,2, Lê Đình Thanh1,2, Nguyễn Văn Ba3,4, Nguyễn Văn Chuyên3,4, Tạ Quang Thành5,6
1 Thong Nhat Hospital
2 Bệnh viện Thống Nhất
3 Vietnam Military Medical Academy
4 Học Viện Quân y
5 Bac Thang Long Hospital
6 Bệnh viện Bắc Thăng Long
Tác giả liên hệ: thaosuongnguyen162@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCĐ3.2151
24 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) người cao tuổi mắc rung nhĩ tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đánh giá chất lượng cuộc sống của 300 người cao tuổi (≥ 60 tuổi) mắc rung nhĩ điều trị nội trú tại bệnh viên Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2023 đến 31/12/2023.

Kết quả: 56,33% bệnh nhân có điểm sức khỏe chung ở mức trung bình – kém, điểm sức khỏe thể chất thấp (30,88 ± 24,13): chủ yếu có điểm kém (54,33%) và trung bình – kém (27,67%), điểm sức khỏe tinh thần khá tốt (60,91 ± 24,13): 69,33% bệnh nhân có điểm trung bình – khá. Những người độc thân/goá vợ/chồng, trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống và thời gian mắc bệnh trên 1 năm có điểm chất lượng cuộc sống thấp cả về sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ chung, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Kết luận: Đánh giá chung chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc rung nhĩ ở mức trung bình – kém. Có sự liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và thời gian mắc bệnh rung nhĩ.

Tài liệu tham khảo
[1]
. Rienstra M., Lubitz S. A., Mahida S., et al. (2012). Symptoms and functional status of patients with atrial fibrillation: state of the art and future research opportunities, Circulation, 125(23):2933-2943. Google Scholar
[2]
. Holmes D. N., Piccini J. P., Allen L. A., et al. (2019). Defining Clinically Important Difference in the Atrial Fibrillation Effect on Quality-of-Life Score, Circ Cardiovasc Qual Outcomes, 12(5):e005358. Google Scholar
[3]
. Karakurt P., Aşılar R. H., Yildirim A., et al. (2018). Determination of hopelessness and quality of life in patients with heart disease: an example from eastern Turkey, Journal of religion health, 57:2092-2107. Google Scholar
[4]
. Nguyễn Hoàng Định (2016). Chất lượng cuộc sống người bệnh tăng huyết áp, Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 12:37-42. Google Scholar
[5]
. Feinberg W. M., Blackshear J. L., Laupacis A., et al. (1995). Prevalence, age distribution, and gender of patients with atrial fibrillation: analysis and implications, Archives of internal medicine, 155(5):469-473. Google Scholar
[6]
. Hoài N. T. T., Thủy N. T.,Thơm V. T. (2023). Nghiên cứu mối liên quan giữa NT-ProBNP lúc mới nhập viện với biến cố tim mạch ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, Tạp chí Y học Việt Nam, 526(1A). Google Scholar
[7]
. Rush K. L., Seaton C. L., Burton L., et al. (2023). Quality of life among patients with atrial fibrillation: A theoretically-guided cross-sectional study, PLoS One, 18(10):e0291575. Google Scholar
[8]
. Sale A.,Yu J. (2022). Quality of life instruments in atrial fibrillation: a systematic review of measurement properties, Health and Quality of Life Outcomes, 20(1):143. Google Scholar